Các quy định cụ thể về xuất xứ hàng hóa của Thổ Nhĩ Kỳ

Quy tắc xuất xứ được áp dụng bởi những nước có các thoả thuận ưu đãi song phương và đa phương với nhau nhằm phân biệt hàng hoá của họ với hàng hoá của nước thứ 3 khi họ nhập khẩu hàng hoá từ lãnh thổ

Thổ Nhĩ Kỳ sẽ tiến hành thực thi các thoả thuận tự quyết và ưu đãi sau khi các cuộc đàm phán được thực hiện với các nước thứ 3 trên cơ sở lợi ích có đi có lại trong thời hạn chuyển đổi 5 năm kể từ khi Quyết định số 1/95 của Uỷ ban Hỗn hợp Thổ Nhĩ Kỳ - EU có hiệu lực.

Mỗi chế độ ưu đãi có khái niệm cụ thể riêng về “hàng hoá có xuất xứ” và việc áp dụng này chịu sự điều chỉnh của một số điều kiện cơ bản. Nói ngắn gọn, sản phẩm cần phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:

- Phải được quy định bao gồm ở trong Hiệp định,

- Có hoặc đã đạt được tiêu chí xuất xứ phù hợp với Hiệp định,

- Có giấy chứng nhận về bằng chứng xuất xứ,

- Đã được vận chuyển phù hợp với các quy định vận tải trực tiếp,

- Chưa được hưởng lợi từ việc hoàn lại bất cứ khoản thuế nào mà lẽ ra phải nộp hoặc sẽ phải hộp trong quá trình nhập khẩu đầu, vào hoặc được miễn thuế.

* Các quy tắc xuất xứ theo chương trình hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP)

Trong khuôn khổ Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập, Thổ Nhĩ Kỳ đã dành ưu đãi thuế quan cho các nước được hưởng lợi kể từ này 1/1/2002, điều này xuất phát từ kết quả của liên minh quan thuế giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Liên minh châu Âu dựa trên Quyết định số 1/95 của Hội đồng Hỗn hợp giữa Thổ và Liên minh châu Âu.

Các quy tắc xuất xứ được điều chỉnh bởi Quyết định số 2001/3485 (sau đây gọi tắt là Quyết định). Quyết định quy định và điều chỉnh các thủ tục và nguyên tắc để xác định xuất xứ hàng hoá được hưởng lợi từ GSP trong buôn bán với Thổ Nhĩ Kỳ. Các điều khoản của Quyết định phù hợp với các điều khoản của “Quy chế số 1602/2000 của Uỷ ban châu Âu về việc sửa đổi Quy chế số 2454/93 quy định các điều khoản nhằm thực hiện Quy chế số 2193/92 của Hội đồng châu Âu thiết lập Mã số Hải quan của Khối”

Hàng hoá được hưởng lợi từ việc đối xử ưu đãi theo chế độ GSP của Thổ Nhĩ Kỳ phải đáp ứng được 3 yêu cầu chủ yếu sau đây:

- Nước xuất khẩu phải được chỉ ra như là nước hưởng lợi;

- Sản phẩm phải phù hợp đối với việc đối xử GSP;

- Sản phẩm phải đáp ứng tiêu chuẩn xuất xứ.

Liên quan đến tiêu chuẩn xuất xứ, hàng hoá từ nước được hưởng lợi xuất khẩu đến Thổ Nhĩ Kỳ phải tuân thủ các yêu cầu về quy tắc xuất xứ miễn là chúng thuộc chế độ GSP, vì chúng sẽ được hưởng lợi từ việc đối xử thuế quan ưu đãi. Hàng hoá không tuân thủ các yêu cầu về quy tắc xuất xứ sẽ bị từ chối được đối xử ưu đãi và mức thuế suất thông thường sẽ được áp dụng đối với những hàng hoá này.

Các quy tắc về xuất xứ theo chế độ GSP của Thổ Nhĩ Kỳ bao gồm những yếu tố: Tiêu chuẩn về xuất xứ; Các lô hàng vận tải trực tiếp; Minh bạch về chứng từ. Cụ thể như sau:

Tiêu chuẩn về xuất xứ

Các Điều 3, 4, 6 và 7 của Quyết định đề cập tới các điều kiện của sản phẩm sẽ được xem là có nguồn gốc ở Thổ Nhĩ Kỳ hoặc ở một nước được hưởng lợi. - Các sản phẩm thu được một cách toàn bộ (Điều 6): Các sản phẩm sau đây sẽ được coi là thu được một cách toàn bộ ở Thổ Nhĩ Kỳ hoặc ở một nước được hưởng lợi:

(a) Các sản phẩm khoáng sản được khai thác từ lòng đất hoặc từ đáy biển;

(b) Các sản phẩm rau quả được thu hoạch như nói trên;

(c) Động vật sống được đẻ và nuôi ở nước đó;

(d) Các sản phẩm có nguồn gốc từ các động vật sống nêu trên;

(e) Các sản phẩm có được bằng việc săn bắt và đánh bắt được thực hiện như trên;

(f) Các sản phẩm đánh bắt ở biển hoặc các sản phẩm khác đánh bắt ở biển ngoài lãnh hải của mình bằng các tầu

(g) Hàng hoá làm ở trên bong các tầu đánh bắt ngoài trừ những sản phẩm được đề cập trong tiểu đoạn (f);

(h) Các sản phẩm đã qua sử dụng được thu thập như nói ở trên chỉ phù hợp để tái chế nguyên vật liệu;

(i) Các sản phẩm phế thải và phế phẩm được tạo ra từ các hoạt động sản xuất được tiến hành như nói trên;

(k) Các sản phẩm được khai thác từ lòng biển hoặc dưới lòng biển mà nó nằm ngoài lãnh thải của nước mình nhưng mình có quyền khai thác duy nhất;

(m) Các hàng hoá được sản xuất như nói trên ngoại trừ các sản phẩm được đề cập trong tất cả các tiểu đoạn bên trên.

- Các sản phẩm đã trải qua quá trình chế tạo hoặc gia công hợp lý (Điều 7): Các sản phẩm mà không thu được một cách toàn bộ được coi là được chế tạo hoặc gia công một cách hợp lý một khi các điều kiện quy định trong danh mục thuộc Phụ lục 2 của Quyết định được đáp ứng.

Mặt khác, các nguyên vật liệu không có xuất xứ có thể được sự dụng để sản xuất một sản phẩm miễn là tổng trị giá của chúng không được vượt quá 10% giá xuất xưởng của sản phẩm đó hoặc bất cứ một tỷ lệ % nào cho trước trong danh mục dành cho trị giá tối đa của các nguyên vật liệu không có xuất xứ không được vượt quá thông qua việc áp dụng quy định này.

- Quá trình chế tạo hoặc gia công không hợp lý: Các hoạt động sau đây sẽ được coi là quá trình chế tạo hoặc gia công không hợp lý đối với việc xác định nguồn gốc các sản phẩm:

(a) Các hoạt động bảo đảm việc bảo quản các sản phẩm trong điều kiện tốt trong quá trình vận chuyển hoặc lưu kho (thông hơi, căng trải ra, làm khô, hoá lạnh, rải muối, sulphur dioxide hoặc các giải pháp sử dụng hơi nước, tháo bỏ các bộ phận gây hư hỏng và các hoạt động tương tự).

(b) Các hoạt động đơn giản bao gồm quét dọn bụi, sàng lọc, lựa chọn, phân loại, che chắn (bao gồm việc che giâu các linh kiện của hàng hoá), lau rửa, quét sơn, cắt bỏ.

(c) Các thay đổi về đóng gói và tháo dỡ và lắp ráp các kiện, việc xếp dỡ đơn giản các chai lọ, bình, túi, hòm, kiện, việc gắn chặt lại các tấm biển thông báo hoặc chỉ dẫn… và tất cả các hoạt động đóng gói đơn giản khác.

(d) ấn đinh lại nhẵn mác, nhãn hiệu và các hoạt động tương tự khác như phân biệt các ký hiệu trên sản phẩm hoặc đóng gói chúng.

(e) Việc pha trộn đơn giản các sản phẩm, tại đó có một hoặc nhiều linh kiện hỗn hợp không đáp ứng các điều kiện đặt ra trong Quyết định để tạo thuận lợi cho chúng được coi là có nguồn gốc xuất xử ở Thổ Nhĩ Kỳ hoặc ở nước được hưởng lợi.

(f) Việc lắp ráp đơn giản các bộ phận để tạo thành một sản phẩm hoàn thiện.

(g) Việc kết hợp hai hoặc nhiều hơn hai các hoạt động được quy định cụ thể trong các tiểu đoạn từ (a) đến (f).

(h) Giết mổ gia súc

Các lô hàng vận tải trực trực tiếp:

Theo Điều 22 của Quyết định, đối xử ưu đãi sẽ chỉ được áp dụng đối với các sản phẩm đáp ứng các yêu cầu của Quyết định này và được chuyên chở trực tiếp giữa Thổ Nhĩ Kỳ và nước được hưởng lợi.

Yêu cầu này nhằm mục đích bảo đảm rằng hàng hoá được vận chuyển từ nước được hưởng lợi là những hàng hoá giống như hàng hoá được dỡ xuống ở cảng nhập khẩu vào Thổ Nhĩ Kỳ và chúng chưa bị ảnh hưởng hoặc được tiếp tục gia công ở nước thứ 3 trong quá trình chuyên chở.

Minh bạch về chứng từ:

(a) Các sản phẩm có nguồn gốc từ nước hưởng lợi sẽ được hưởng lợi ích từ GSP khi nhập khẩu vào Thổ Nhĩ Kỳ sau khi xuất trình hoặc là Giấy chứng nhận xuất xứ Form A hoặc Khai báo hoá đơn. Cụ thể:

- Giấy chứng nhận xuất xứ Form A

Sản phẩm có nguồn gốc theo ý nghĩa của Quyết định sẽ được hưởng lợi từ chế độ ưu đãi khi nhập khẩu vào Thổ Nhĩ Kỳ sau khi xuất trình giấy chứng nhận xuất xứ Form A do các cơ quan hải quan hoặc các cơ quan khác có thẩm quyền thuộc chính phủ của nước hưởng lợi cấp.

- Khai báo hoá đơn

Giấy khai báo hoá đơn có thể được lập ra nếu sản phẩm có liên quan có thể được xem là có nguồn gốc từ Thổ Nhĩ Kỳ hoặc từ một nước hưởng lợi và đáp ứng các yêu cầu khác của Quyết định. Giấy khai báo hoá đơn có thể được lập bởi một người xuất khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ đã được phê duyệt hoặc bởi bất cứ một người xuất khẩu nào đối với lô hàng bao gồm một hoặc nhiều kiện chứa đựng các sản phẩm có nguồn gốc mà tổng trị giá của nó không vượt quá 6.000 Euro.

- Giấy chứng nhận xuất xứ Form A được cấp lùi ngày và sao làm 2 bản

Một giấy chứng nhận xuất xứ Form A có thể được cấp một cách ngoại lệ sau khi đã xuất khẩu sản phẩm trong những trường hợp sau đây:

+ Nó không được cấp vào thời điểm xuất khẩu do các sai sót và sự nhầm lẫn không có chủ tâm hoặc các tình huống đặc biệt.

+ Chứng minh được cho các cơ quan có thẩm quyền của chính phủ rằng giấy chứng nhận xuất xứ Form A đã được cấp nhưng không được chấp nhận tại lúc nhập khẩu vì lý do kỹ thuật.

Trong trường hợp giấy chứng nhận xuất xứ Form A bị mất trộm, bị rơi hoặc bị hỏng, người xuất khẩu có thể xin các cơ quan có thẩm quyền của chính phủ đã phát hành nó một bản thứ 2 trên cơ sở các chứng từ xuất khẩu mà người xuất khẩu còn giữ.

(b) Khi xuất khẩu từ Thổ Nhĩ Kỳ đến nước hưởng lợi để nhằm được hưởng lợi từ cách tính tích luỹ song phương đối với hàng hoá có nguồn gốc từ Thổ Nhĩ Kỳ và đáp ứng các yêu cầu khác của Quyết định, sự minh bạch về vị thế nguồn gốc của các sản phẩm sẽ phải nộp bằng một giấy chứng nhận di chuyển hoặc giấy khai báo hoá đơn.

Các thủ tục và nguyên tắc sử dụng Giấy chứng nhận di chuyển đã được cấp và khai báo hoá đơn được nêu trong “Quy chế về Giấy chứng nhận di chuyển và Giấy khai báo hoá đơn sẽ được cấp khi xuất khẩu theo GSP của Thổ Nhĩ Kỳ”, quy chế này được công bố trên Công báo số 24704 ngày 23/4/2002.

- Các sản phẩm phi mậu dịch

Các sản phẩm được gửi dạng những gói nhỏ từ những cá nhân không vượt quá giá trị 500 Euro và những thứ tạo thành một phần của hành lý cá nhân của khách du lịch với tổng trị giá không vượt quá 1.200 Euro sẽ được thừa nhận là có nguồn gốc mà không bị yêu cầu xuất trình bằng chứng nguồn gốc.

- Hiệu lực của bằng chứng nguồn gốc

Một bằng chứng nguồn gốc sẽ có hiệu lực trong 10 tháng kể từ ngày phát hành ở nước xuất khẩu và sẽ được xuất trình trong thời hạn nói trên cho các cơ quan hải quan của nước nhập khẩu.

- Việc xác nhận sau

Các thông tin được cung cấp trên các giấy chứng nhận xuất xứ Form A và các giấy khai báo hoá đơn có thể được xác nhận ngẫu nhiên hoặc bất cứ lúc nào các cơ quan hải quan của Thổ Nhĩ Kỳ có sự nghi ngờ hợp lý đối với tính xác thực của chứng từ hoặc độ chính xác của các thông tin liên quan đến xuất xứ hàng hoá.

Sau khi thực hiện xong đơn xác nhận phải thông báo cho phía Thổ Nhĩ Kỳ trong thời hạn tối đa là 6 tháng. Nếu trong trường hợp có nghi ngờ hợp lý mà không có sự trả lời trong thời hạn 6 tháng hoặc nếu việc trả lời không đáp ứng những thông tin phù hợp để xác định tính xác thực của chứng từ được yêu cầu hoặc xuất xứ thực tế của sản phẩm, thì một yêu cầu về thông tin lần thứ 2 sẽ được gửi tới các cơ quan có thẩm quyền. Sau lần thứ 2 này, nếu kết quả của việc xác nhận vẫn không đáp ứng được cơ quan yêu cầu trong thời hạn 4 tháng hoặc những kết quả này không cho phép xác định được tính xác thực của chứng từ được yêu cầu hoặc nguồn gốc xuất xứ thực tế của sản phẩm thì cơ quan yêu cầu ngoại trừ trong các trường hợp loại trừ sẽ từ chối cho phép được hưởng chế độ ưu đãi.

- Về hiệu lực thực hiện

Quyết định số 2001/3485 nói trên có hiệu lực thi hành kể từ 1/1/2002.

Ngoài những quy định nêu trên, Thổ Nhĩ Kỳ còn có thêm một số quy định liên quan đến xuất xứ của hàng hoá từ Điều 17-22 của Luật Hải quan số 4458./.
Trần Ngọc Hà