Chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp tư nhân của Trung Quốc và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam

Trong những năm 1990, và nhất là trong những năm đầu thế kỷ XXI, Trung Quốc đã mở rộng thị trường cho khu vực doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, thời gian đầu, quá trình này diễn ra hết sức chậm chạp. C

Đến những năm 2000, quy chế quản lý các doanh nghiệp thương mại của Trung Quốc tác động trực tiếp đến việc tiếp cận thị trường nói chung đối với DNTN. Chẳng hạn, yêu cầu về vốn đăng ký với các công ty trách nhiệm hữu hạn ở Trung Quốc là vào loại cao nhất thế giới: Trong lĩnh vực kinh doanh bán lẻ là 300.000 NDT (36.000 USD), kinh doanh bán buôn hoặc chế tạo là 500.000 NDT (60.000 USD), mà phải nộp đủ trước khi được cấp giấy phép kinh doanh. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp tư nhân còn phải trải qua các thủ tục đăng ký khá phức tạp và đòi hỏi phải chịu nhiều điều đột xuất và chi phí bổ sung. Khung thời gian cho một số bước thủ tục có thể là từ 3 đến 6 tháng và phải đăng ký với cơ quan công nghiệp hoặc thương nghiệp của địa phương, lấy chứng nhận đăng ký của Cơ quan Công thương nhà nước, đăng ký với lao động địa phương..., với chi phí bổ sung khoảng 5.000 NDT (600 USD). Ngoài ra, còn phải đạt được hàng loạt các giấy phép khác như: Giấy phép thuê lao động, bảo vệ môi trường, xây dựng nhà máy...Mặc dù nguyên tắc quy định việc đăng ký với địa phưng phải được thực hiện trong vòng 15 ngày đối với doanh nghiệp 100% sở hữu cá nhân và 30 ngày đối với các liên doanh, nếu đáp ứng được các yêu cầu cơ bản, nhưng trên thực tế, không có thời hạn cụ thể trong việc phê chuẩn đơn xin thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn. Ngoài ra, các DNTN còn phải ghi rõ “lĩnh vực kinh doanh” trong tài liệu đăng ký. Thông thường, khi đã đăng ký lĩnh vực kinh doanh thì các DNTN rất khó có thể thay đổi, để đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Vị thế của DNTN đã hoàn toàn thay đổi sau khi Đại hội 16 Đảng CS Trung Quốc (tháng 10-2003) lần đầu tiên khẳng định, việc phát triển khu vực kinh tế phi quốc doanh và coi đó là chế độ kinh tế cơ bản cần kiên trì thực hiện và hoàn thiện. Địa vị kinh tế phi quốc doanh với các hình thức khác nhau như cá thể, tư doanh đã được nâng từ “hình thức bổ trợ hữu ích” trước đây lên thành “bộ phận cấu thành quan trọng” của nền kinh tế thị trường, có vai trò ngang với kinh tế quốc doanh. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội 16, Trung Quốc đã khẳng định nguyên tắc “hai đồng thuận” (nghĩa là quyết tâm tăng cường và phát triển kinh tế nhà nước, đồng thời khuyến khích hỗ trợ và định hướng sự phát triển kinh tế tư nhân) và quan điểm “phát triển nền kinh tế với 3 hình thức sở hữu hỗn hợp”.     
Hội nghị Trung ương 3 khoá 16 Đảng CS Trung Quốc mới đây đã đưa ra hướng phát triển mới đối với khu vực kinh tế phi công hữu, cụ thể là: Phát triển mạnh mẽ và tích cực, dẫn dắt kinh tế phi công hữu, cho phép nguồn vốn phi công hữu được đi vào các thiết chế cơ sở, các sự nghiệp, ngành nghề và lĩnh vực công cộng chưa cấm. Cho phép các xí nghiệp phi công hữu được tham gia đầu tư vào cơ sở hạ tầng, sự nghiệp công ích...; Các xí nghiệp phi công hữu được hưởng sự đãi ngộ bình đẳng như các doanh nghiệp khác trong các mặt như đầu tư tài chính, thu thuế, sử dụng đất đai và mậu dịch đối ngoại...; Cải tiến công tác giám sát các xí nghiệp phi công hữu.
Bên cạnh việc mở cửa thị trường trong nước cho các DNTN, Trung Quốc đã và đang tạo mọi điều kiện cho các DNTN tiếp cận thị trường nước ngoài, thông qua việc cải cách mạnh mẽ cơ chế quản lý ngoại thương. Từ đầu năm 1999, Trung Quốc cho phép các công ty qui mô lớn thuộc các thành phần kinh tế thực hiện theo hệ thống “đăng ký kinh doanh xuất, nhập khẩu”. Nhà nước Trung Quốc lần đầu tiên cấp giấy phép xuất, nhập khẩu cho các công ty tư nhân và các công ty này được phép nắm giữ 49% cổ phần trong các doanh nghiệp ngoại thương. Các ngân hàng thương mại dành ưu đãi về cấp tín dụng cho các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu như giảm lãi suất, tăng thời hạn thanh toán tín dụng, tăng hạn ngạch cấp tín dụng. Đến tháng 7-2001, Trung Quốc ban hành quy định về quản lý việc cấp giấy chứng nhận xuất, nhập khẩu và quy định về quyền xuất, nhập khẩu đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và một số quy định khác về phân cấp hoạt động xuất, nhập khẩu cho các loại hình doanh nghiệp, trong đó có DNTN. Tính đến cuối năm 1999, có khoảng 150 DNTN được cấp giấy phép trực tiếp xuất khẩu. Tuy nhiên, để có được quyền tự xuất, nhập khẩu, các doanh nghiệp tư nhân phải đáp ứng một số điều kiện như: Doanh nghiệp phải có vốn đăng ký cũng như tài sản ròng từ 8,5 triệu NDT (1 triệu USD) trở lên. Doanh số bán ra phải từ 50 triệu NDT (6 triệu USD) trở lên và kim ngạch xuất nhập khẩu phải trên 1 triệu NDT (120.000 USD).  Đến nay, đã có hơn 1.000 doanh nghiệp tư nhân ở Trung Quốc được quyền xuất khẩu.
Gần đây, thuyết “Ba đại diện” đã mở ra cánh cửa lớn cho chủ doanh nghiệp tư nhân gia nhập Đảng Cộng sản. Số lượng chủ doanh nghiệp tư nhân ngày càng nhiều, đến giữa năm 2003, chỉ riêng tỉnh Chiết Giang đã có hơn 5.000 người và có hơn 4.000 người xin gia nhập Đảng. Từ năm 1989 đến nay, Trường Đảng Trung ương Trung Quốc đã mở 32 lớp đào tạo chính trị cho chủ doanh nghiệp tư nhân, hơn 4.000 học viên đã đảm nhận các chức vụ khác nhau ở các thành phố, thị trấn trong toàn quốc. Chủ doanh nghiệp tư nhân đã trở thành đại biểu tham dự Đại hội Đảng toàn quốc và Đại hội Hội nghị chính trị hiệp thương nhân dân Trung Quốc (Tổ chức mặt trận dân tộc của Trung Quốc).
Có thể nói, chính sách cởi mở về kinh tế của Trung Quốc đối với thành phần kinh tế tư nhân đã tạo điều kiện cho thành phần kinh tế này phát triển mạnh hơn, đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế Trung Quốc. Đến năm 2002, Trung Quốc đã có khoảng 2.209.000 doanh nghiệp tư nhân và 4.608 nhà đầu tư với tổng số vốn đăng ký là 1.821,2 tỷ USD; khoảng 1.231,7 tỷ NDT giá trị sản lượng; 1.148,4 tỷ NDT doanh số bán hàng; khoảng 2.433.000 hộ cá thể với tổng số vốn đăng ký là 343,6 tỷ NDT, tạo ra 732 tỷ NDT giá trị sản xuất và 1.964,8 tỷ NDT doanh thu. Hiện nay, giá trị gia tăng do khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (không kể hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài, liên doanh và hợp tác với nước ngoài) chiếm khoảng 10% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cả nước. Trong 10 năm qua, kinh tế tư nhân đã đóng góp cho tăng trưởng kinh tế từ mức dưới 1% tăng lên đến hơn 20%. Kinh tế tư nhân đã trở thành điểm tăng trưởng mới của kinh tế Trung Quốc, và trở thành trụ cột phát triển kinh tế ở một số vùng duyên hải của nước này. Nó đã đáp ứng đầy đủ yêu cầu đa dạng hoá, giải quyết việc làm cho xã hội, phát huy tác dụng tích cực trên các lĩnh vực như bảo  đảm ổn định xã hội, nâng cao mức thuế thu quốc gia và hỗ trợ xã hội.
ở Việt Nam,  các DNTN còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc mở rộng thị trường, đặc biệt trong hoạt động xuất khẩu hàng hoá. Nhà nước còn hạn chế các DNTN xuất, nhập một số loại hàng hoá. Hơn nữa, các DNTN trong nước còn bị phân biệt đối xử trong việc giao các chỉ tiêu hạn ngạch xuất khẩu. Tiêu chuẩn về “đủ điều kiện kỹ thuật” và chính sách “thưởng hạn ngạch”, đã hạn chế cơ hội tham gia xuất khẩu của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Kinh nghiệm của Trung Quốc về phát triển doanh nghiệp tư nhân cho thấy, trong những năm gần đây, Trung Quốc đã và đang đẩy mạnh hàng loạt các giải pháp nhằm khuyến khích mở rộng thị trường trong và ngoài nước cho khu vực tư nhân như cho phép tư nhân được tham gia tất cả các lĩnh vực, trừ những lĩnh vực liên quan đến an ninh quốc gia (chẳng hạn, Trung Quốc đã cho phép tư nhân tham gia quá trình sản xuất và cung cấp điện, nước, viễn thông...); thực hiện đơn giản hoá trình tự phê chuẩn thủ tục, giảm bớt những yêu cầu về vốn đối với các doanh nghiệp tham gia thị trường. Đồng thời, khuyến khích các DNTN tham gia hoạt động xuất, nhập khẩu.
Từ kinh nghiệm của Trung Quốc, để mở cửa thị trường cho khu vực tư nhân, theo giới nghiên cứu, trong thời gian tới, Việt Nam cần: tiếp tục xem xét để thu hẹp bớt danh mục ngành nghề cấm kinh doanh, kinh doanh có điều kiện; Đẩy mạnh cải cách DNNN theo hướng thu hẹp phạm vi độc quyền về ngành nghề của một số doanh nghiệp, từng bước tạo lập không gian cho các DNTN phát triển; Xoá bỏ tư tưởng phân biệt đối xử trong quản lý kinh doanh; Sớm ban hành văn bản pháp lý về cạnh tranh, xây dựng Luật Chống độc quyền; Tiếp tục thu hẹp tối đa các sản phẩm, dịch vụ xuất khẩu có điều kiện, có giấy phép của Bộ Thương mại; Hạn chế danh mục hàng hoá xuất, nhập khẩu thuộc diện quản lý chuyên ngành; Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ về thông tin, xúc tiến thương mại cho tất cả các thành phần kinh tế, đặc biệt là các DNTN; Khuyến khích và trợ giúp các hoạt động xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư, hỗ trợ kinh doanh của các hiệp hội doanh nghiệp và các doanh nghiệp; Xây dựng cơ chế quy định thưởng cho xuất khẩu và cơ chế sử dụng quỹ hỗ trợ tín dụng xuất khẩu, áp dụng chung cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, coi trọng hơn năng lực thực tế để các DNTN cũng có thể dễ dàng được hưởng chính sách này.
Trong bối cảnh đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, Việt Nam cần nhanh chóng mở cửa thị trường trong nước cho các thành phần kinh tế, đặc biệt là cho các DNTN, một thành phần kinh tế năng động, trước khi tiến hành thực hiện các cam kết mở cửa cho các doanh nghiệp nước ngoài. Đồng thời, tạo mọi điều kiện để các DNTN có thể tiếp cận được thị trường quốc tế, khuếch trương thương hiệu hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế. Đây là điều kiện để Việt Nam có thể vững bước trên con đường cạnh tranh và hội nhập.

  • Tags: