Chính sách tạo môi trường hình thành và phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Ngày 26/11, Viện Chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ tổ chức Hội thảo quốc tế với sự tham gia của các chuyên gia, lãnh đạo doanh nghiệp khoa học công nghệ trong nước, các chuyên gia đến từ

1. Vụ Tổ chức cán bộ của Bộ KH&CN cho biết, thực hiện Nghị định 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp khoa học công nghệ (DNKHCN), đến nay đã có 13 DNKHCN, trong đó 9 DN mới thành lập và 4 DN chuyển đổi từ các tổ chức KHCN khác. Ngoài ra, còn số lượng lớn DN đang làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận DNKHCN; Các chính sách khuyến khích DNKHCN được ban hành, tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện về sử dụng đất, thuê đất như các DN, tổ chức thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường theo nguyên tắc thẩm định kết quả, đánh giá độc lập mới quyết định thụ hưởng. Hiện nay, có nhiều cá nhân, chủ DN tự bỏ tiền ra nghiên cứu, có kết quả đề nghị sở KHCN lập hội đồng đánh giá làm cơ sở trả kinh phí đầu tư, xác định phương thức chuyển giao công nghệ, nhưng chúng ta chưa có trung tâm đánh giá độc lập kết quả nghiên cứu.

2. Thế nào là DNKHCN? Theo TS. Bạch Tân Sinh (Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ), từ định nghĩa của Nghị định 80, khái niệm DNKHCN được cụ thể hơn:
- 4 nhóm tác nhân sau đây tham gia vào quá trình hình thành DNKHCN (Roberts and Malone 1996): (1) Người tạo ra công nghệ (technology originator); (2) Tổ chức nghiên cứu phát triên - R&D mẹ (Parent organization) ; (3) Nhà nghiên cứu có tinh thần kinh doanh hoặc một nhóm nhà nghiên cứu có tinh thần kinh thương (the entreprenuer or the entrepreneurial team) ; (4) Nhà đầu tư mạo hiểm (the venture investor)
- 2 đặc trưng của DNKHCN: (1) Đặc tính của những người khởi xướng quá trình thành lập DN khoa học spin-off (spin-off là cách gọi của Anh, Mỹ về DNKHCN) chiếm giữ một bí quyết công nghệ cụ thể dựa trên hoạt động nghiên cứu tại trường đại học, viện nghiên cứu của nhà nước, tổ chức nghiên cứu tư nhân, và có thể áp dụng bí quyết công nghệ đó để đổi mới sản phẩm và/hoặc đổi mới quá trình, đồng thời quan tâm đến việc khai thác tối đa bí quyết công nghệ của mình, và có khả năng tạo sản phẩm và dịch vụ cụ thể có thể tiêu thụ trên thị trường dựa trên bí quyết công nghệ của mình; (2) Cách thức khai thác kết quả nghiên cứu bằng cách chuyển giao công nghệ hoặc di chuyển cán bộ nghiên cứu như là một phương thức khai thác giá trị kinh tế của kết quả nghiên cứu.
- DNKHCN ở Việt Nam: Đó là Công ty Phát triển Công nghệ (IMTECH), Công ty NETNAM, Công ty Sản xuất Công nghệ Phần mềm (CSE), Công ty Tinh dầu và các Sản phẩm Tự nhiên (ENTEROIL), Công ty Vắc xin và Sản phẩm số 1 (VABIOTECH), Trung tâm Công nghệ Laser (NACENLAS), Công ty Phát triển và Kỹ thuật Đầu tư (ITD), Công ty Phát triển Phụ gia và Sản phẩm Dầu mỏ (APP), Công ty Bách Khoa (BKC),...

3. Mạng lưới OSEO – quỹ đầu tư của chính phủ Pháp hoạt động trên toàn lãnh thổ, với 1000 cộng tác viên ở 37 cơ sở hỗ trợ trực tuyến cho doanh nghiệp. OSEO vay vốn rồi cho vay lại với ưu đãi như không cần bảo đảm tiền vay, dãn chiết khấu, tài trợ cho DN mới thành lập,...; năm 2008 có tới 80.000 DN được hỗ trợ, DN có 2000 lao động cho thể được hỗ trợ đến 3 triệu ơ-rô, dự án lớn lên tới 10 triệu ơ-rô ; OSEO nghiên cứu nhu cầu đầu tư, chống rủi ro, tìm kiếm khả năng đối ứng của công ty thực hiện dự án sản phẩm mới. OSEO hợp tác với Canada, Ixraen, Mexico,... theo mô hình đồng tài trợ dự án tạo sản phẩm mới hướng vào thị trường xuất khẩu. Hiện nay tài trợ của OSEO theo 3 đầu tăng trưởng với 3 chữ “I”: Inovation (Đổi mới), Investissement (Đầu tư) và International (Quốc tế) liên kết rất chặt chẽ.

4. Ông Nguyễn Đức Long, Giám đốc Trung tâm ươm tạo DN công nghệ cao Hòa Lạc (HBI): Trung tâm là đơn vị sự nghiệp công, phi lợi nhuận, thành lập năm 2006 (địa chỉ www.hbi.org.vn). Hoạt động tư vấn của Trung tâm ưu tiên công nghệ sinh học và công nghệ thông tin. Trung tâm có chức năng tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp; Phổ biến tinh thần doanh nhân; Xây dựng mô hình liên kết trường đại học- viện nghiên cứu và doanh nhân. Định hướng của HBI là rút ngắn khoản cách nghiên cứu với thị trường, thương mại các kết quả, tạo làn sóng đổi mới công nghệ trong các DN khác…Quy trình ươm tạo gồm ba bước: Tiền ươm tạo tiếp nhận ý tưởng, xây dựng kế hoạch; Ươm tạo, phát triển sản phẩm mới; Hậu ươm tạo, phát triển thị trường, thương hiệu, xây dựng chiến lược phát triển bền vững. HBI tiếp nhận các đối tác cung ứng dịch vụ, các đối tượng là cá nhân, tổ chức, người sở hữu công nghệ, các dự án, đề tài. Kết quả, HBI đã ươm tạo 14 doanh nghiệp, các DN “tốt nghiệp” tăng gấp đôi doanh thu sau mỗi năm.

Ông Long cho rằng, cần tiếp nhận các DN, vun đắp ý tưởng của doanh nhân, hỗ trợ tích cực và lâu dài. Bên cạnh thuận lợi của xu hướng phát triển DN, quan tâm của Chính phủ, hoạt động của HBI có khó khăn về hệ thống pháp lí như hướng dẫn Luật công nghệ cao, tinh thần doanh nhân chưa cao ngay từ khi học ở các đại học, viện; Khả năng tiếp cận nguồn tài chính có hạn, văn hóa DN còn dấu ấn của cơ chế bao cấp,...

5. Giáo sư Venni V. Krishne, đại học Jawaharlal Nehru- Ấn Độ: 35% dân cư Ấn độ sống ở đô thị (350 triệu người); 700 triệu người đi bỏ phiếu bầu Nghị viện, trong đó có 400 triệu người bỏ phiếu điện tử (lớn nhất thế giới).

Chi phí R&D được Chính phủ bảo đảm 80%, còn lại là tư nhân. Nền tảng khoa học công nghệ của Ấn Độ được xây dựng từ năm 1940, năm 1991 là bước ngoặt quan trọng đó là: mở cửa cho đầu tư nước ngoài, mở rộng cho DN tư nhân công nghiệp, chuyển sang hướng ngoại bằng nội lực, tập trung cho giáo dục đào tạo, phát triển công nghệ dược, sinh học, công nghệ thông tin,… cải cách KHCN theo hướng thương mại hóa kết quả R&D, thúc đẩy đầu tư mạo hiểm, có chính sách miễn thuế cho KHCN, xây dựng các công viên, vườn ươm công nghệ… Thành công lớn của Ấn độ là công nghiệp phần mềm với doanh thu tới 70 tỷ USD vào năm 2010, dự kiến tăng đến 110 tỷ USD vào năm 2013, tiếp đến là công nghiệp dược với những phát minh ra loại thuốc mới, giá rẻ; Sinh học, thành công trong cách mạng trắng (sữa), xanh (năng suất cây trồng, ứng dụng vào y tế), vũ trụ,…và cán bộ chuyên môn tăng từ 0,52 triệu người năm 2002 lên tới 2,3 triệu người năm 2009. Kế hoạch 5 năm 2007-2012, Ấn Độ tăng chi cho R&D từ 1,1% lên 2% GDP hướng vào công nghệ sinh học, công nghệ nano, ưu tiên giáo dục đào tạo theo ưu thế nguồn nhân lực của Ấn Độ với 51% dân số dưới 25 tuổi.

Kinh nghiệm cho Việt Nam? Ấn Độ là nước đang phát triển lợi thế cạnh tranh thấp, nguồn tài nguyên tự nhiên không phải là động lực phát triển mà là nguồn nhân lực đổi mới KHCN, chú trọng cả khoa học cơ bản và ứng dụng.

6. Bà Sumonwan Sungchuay -Văn phòng Cấp phép Công nghệ - Cục Phát triển KHCN quốc gia Thái Lan (NSTDA) : Thái Lan có 2,836 triệu doanh nghiệp, 98,6% DN nhỏ và vừa. Các vấn đề của DN nhỏ và vừa ở Thái Lan: Thiếu vốn, thiếu nhân lực tri thức, thiếu bí quyết công nghệ, thiếu kĩ năng, thiếu cơ sở hạ tầng, kém hiểu biết về thị trường,…Nhiệm vụ của Cục là hỗ trợ để giảm cái thiếu đó.

Hoạt động của Cục: Xác lập chiến lược trong công nghiệp và lập quỹ cấp vốn, cấp phép để thương mại hóa sản phẩm mới ở DN nhưng không phải lúc nào cũng thương mại hóa thành công. Bước thương mại hóa cần nhiều thông tin từ các phía, công nghệ và thị trường tương thích với nhau; Xác định khách hàng tiềm năng ngay từ lúc bắt đầu nghiên cứu. Về huấn luyện, Cục có chuyên gia từ nhiều nguồn, giới thiệu các kinh ngiệm trong các câu lạc bộ quan tâm đến công nghệ mới, sản phẩm mới, tham gia các cuộc thi. Cục có các trung tâm ươm tạo kinh doanh, tạo dựng các DN, thương mại hóa sản phẩm mới, các trung tâm xúc tiến thương mại đạt được nhiều kết quả tốt.

7. Đại diện Trung tâm Dobrov, Viện Hàn lâm Khoa học quốc gia Ucraina: Trung tâm tài trợ cho R&D mới, cho DN ở mức cao, tiếp đến cho khu vực công cộng, đến giáo dục đào tạo, và khu vực phi lợi nhuận. Đổi mới công nghệ trong DN Ucraina có tỷ lệ sản phẩm mới giảm từ 6,5% năm 2005 còn 4,8% hiện nay, nhưng số DN triển khai đổi mới tăng từ 8,2% lên 10,7 %. Sản phẩm mới có tính tập trung vào công nghệ hiện đại tiết kiệm tài nguyên chứ không phải là sản phẩm cuối cùng. Ucraina có nhiều công viên công nghệ chuyên ngành nhưng chất lượng giảm do Chính phủ cắt các hoạt động hỗ trợ, giảm từ 16 xuống còn 8 công viên cùng với giảm 108 dự án còn 8 dự án trong năm. Ucraina đã và đang hoàn thiện luật pháp về KHCN.

8. Đoàn Minh Chấn, Chủ tịch HĐTV Công ty TNHH Silicat Việt An (thành lập năm 1999): Tôi học ở Đức, những nghiên cứu đề xuất ở viện, không được quan tâm, muốn đọc sách khoa học cũng không chủ động thời gian... Con cháu nhờ tôi xin việc, tôi nghỉ hưu thành lập công ty theo chuyên môn được học, chỉ có 30 triệu đồng cũng làm, thuê mặt bằng hồi đó có 600.000 đồng/tháng, xây lò sản phẩm làm men cho sắt tráng men, bán chạy. Công ty chú trọng nghiên cứu sản xuất những nguyên liệu, phụ liệu nhập khẩu, ưu điểm là đầu vào không lớn, nhưng cần nhiều chất xám, cập nhật kĩ thuật công nghệ, có quan hệ rộng với các nhà khoa học, đối tác công nghệ. Năm 2000- 2001 Công ty sản xuất sản phẩm từ silicat, imenit cho sản xuất que hàn, các sản phẩm tráng men công nghiệp. Công ty đã lập nhiều đề tài có sự hợp tác của nhà khoa học, được Sở KHCN Hải Phòng đánh giá cao, được giải thưởng Vifotec,... đưa vào sản xuất hàng loạt; đáp ứng nguyên liệu cho 90% DN sản xuất que hàn ở Việt Nam, giá bằng 80% sản phẩm nhập khẩu,…

Chủ trương của chúng tôi là sử dụng nhiên liệu ít nhất, năng suất cao nhất, do vậy thiết kế lò để tiết kiệm nhiên liệu, thu hồi nhiệt, giảm tối đa thoát nhiệt và khí thải ra ngoài. Giá dầu FO ngày càng cao, cần có nhiên liệu mới như dầu vỏ điều có thể thay thế, làm sạch hơn, giảm khí thải, giảm ăn mòn lò, hiện Công ty đã sử dụng và đang chuyển sang dùng bã thải khi bóc tách điều.

Bất kì ai sản xuất mặt hàng mới phải trả lời những câu hỏi: Đã có ai làm, giá, thị trường. Sân chơi cho giới khoa học rộng lớn, nhiều sản phẩm phải thay thế nhưng ta chưa làm được. Do vậy, phải hướng mục tiêu hiệu quả để phát triển KHCN bền vững; Không nản chí, phải kiên trì sẽ được nhiều hơn mất; Sử dụng nhân lực hợp tác từ xa, trả theo thành quả đóng góp.

Kiến nghị: Cần sự hỗ trợ nhiều hơn của quỹ KHCN, chúng tôi vay chưa được nhiều, có dự án thất bại nhưng không bỏ cuộc; quy trình tiếp cận quỹ KHCN phức tạp “viết đi, viết lại, lên xuống nhiều lần” với 200 triệu đồng mà hết ban, phòng kiểm tra rất phiền phức. Việc chi thù lao cho Hội đồng phản biện không nên lấy vào đề tài. Chúng tôi bận, mà viết sửa lại nhiều rất phiền.

9. TS. Nguyễn Nghĩa, Viện Sở hữu trí tuệ: Cuối năm 1998, thế giới có 3300 vườn ươm DN, riêng Mỹ có tới 750 vườn, Châu Âu có 2334, Nga 33, Braxin 55, Trung Quốc 100, Ba Lan 30 vườn. Trung Quốc có nhiều kinh nghiệm giống Đức, khuyến khích các giáo sư, nhà khoa học, sinh viên thành lập DN, không thành công họ trở về; Tăng cường mua sắm Chính phủ để tài trợ cho DNKHCN, ví dụ như đặt hàng sản phẩm công nghệ mới như xe điện, điện gió, sản phẩm cho các dự án dùng ngân sách nhà nước; Hỗ trợ không hoàn lại từ 50- 100% chi phí ra sản phẩm mới. Các cơ quan tư vấn công nghệ, tư vấn triển khai, giám sát, nghiệm thu rất cần cho DNKHCN...

10. Ý kiến xây dựng cơ chế khuyến khích cán bộ KHCN ở các viện, trường, trung tâm nghiên cứu thành lập DNKHCN, khi DN thành công, hoặc khi cán bộ KHCN muốn quay trở lại cơ sở nghiên cứu giảng dạy, được nhiều người quan tâm. Chuyên gia Thái Lan cho biết: Cán bộ KHCN có tính cách riêng, không thể theo đuổi kinh doanh thuần túy, nhưng ý tưởng, trí tuệ của họ phải thể hiện thành công ở DN. Cục NSTDA của Thái Lan có thể là cổ đông tham gia DNKHCN, đề xuất với các nhà nghiên cứu và DN. Sau 2-3 năm, các nhà khoa học không thành công ở DNKHCN có thể trở về Cục. Ở Việt Nam có những luân chuyển đó nhưng chưa thành quy chế chung nên giảm cơ hội để cán bộ KHCN thể hiện, gắn bó trực tiếp với DNKHCN.

  • Tags: