Trong tiến trình tái cơ cấu ngành Công Thương, chất lượng tăng trưởng xuất nhập khẩu không chỉ được đánh giá qua quy mô kim ngạch hay trạng thái xuất siêu, nhập siêu. Điều quan trọng hơn là các dòng thương mại có được chuyển hóa thành năng lực sản xuất, năng suất, công nghệ và giá trị gia tăng mới cho nền kinh tế hay không.
Trong chu kỳ mở rộng sản xuất, nhập khẩu nguyên liệu, linh kiện, máy móc và thiết bị là nguồn đầu vào cần thiết để doanh nghiệp mở rộng công suất, đổi mới công nghệ và chuẩn bị cho các chu kỳ sản xuất tiếp theo.
Vấn đề cốt lõi đặt ra là làm thế nào để chuyển hóa hiệu quả những nguồn lực nhập khẩu thành năng lực sản xuất mới cả về quy mô và chất lượng; từ đó phát triển sản phẩm, nâng cao hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng, mở rộng xuất khẩu, đồng thời giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn và từng bước vươn lên những khâu có giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Đây không chỉ là yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất nhập khẩu, mà còn là điều kiện để củng cố nền tảng sản xuất, nâng cao tính tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế, tạo cơ sở cho việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số theo hướng bền vững trong giai đoạn tới.
Xuất nhập khẩu tăng mạnh, đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng
Chia sẻ tại tọa đàm “Nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất nhập khẩu trong tiến trình tái cơ cấu ngành Công Thương” do Tạp chí Công Thương tổ chức, bà Trịnh Thị Thu Hiền, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương cho biết, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng cao trong 9 tháng năm 2026.
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt hơn 888 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, trong đó xuất khẩu đạt hơn 434 tỷ USD, tăng 24,5%; nhập khẩu đạt hơn 453 tỷ USD, tăng 36,7%.
Cùng với sự mở rộng về quy mô, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo. Các nhóm hàng như máy vi tính, sản phẩm điện tử, máy móc, điện thoại và linh kiện tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu.
Ở chiều nhập khẩu, cơ cấu hàng hóa cho thấy phần lớn kim ngạch tập trung vào các đầu vào phục vụ hoạt động sản xuất. Nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 426,92 tỷ USD, chiếm 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu; trong đó, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm 58,3% và nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 35,8%.
“Như vậy, đối với các mặt hàng xuất khẩu hay các mặt hàng nhập khẩu, hiện nay chúng ta đang nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu để phục vụ sản xuất”, bà Hiền nhận định.
Tăng trưởng xuất nhập khẩu cũng được ghi nhận từ thực tiễn địa phương. Ông Lê Hồng Giang, Phó Giám đốc Sở Công Thương Quảng Ninh cho biết, trong 9 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu của Thành phố đạt trên 3,83 tỷ USD, tăng 26,7%; nhập khẩu tăng 26% so với cùng kỳ.
Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu của Quảng Ninh chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng nhóm hàng chế biến, chế tạo, điện tử, thủy sản, dệt may và máy móc, thiết bị. Một số mặt hàng có mức tăng trưởng cao như thủy sản tăng 42,4%; máy móc, thiết bị tăng 74,3%; linh kiện điện tử và thiết bị điện tử tăng 39,2%
Cùng với đó, mức độ tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục mở rộng. Theo ông Lê Hồng Giang, trong 9 tháng đầu năm có thêm 1.300 doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu. Thu hút đầu tư, đặc biệt là FDI, cũng ghi nhận kết quả tích cực, với trên 1,3 tỷ USD vốn FDI và tổng vốn đầu tư ngoài ngân sách trên địa bàn trên 143.000 tỷ đồng. Đây là những nguồn lực quan trọng để thúc đẩy sản xuất, tạo ra sản phẩm mới và tham gia các chuỗi cung ứng xuất nhập khẩu.
Bức tranh chung cho thấy tăng trưởng về quy mô xuất nhập khẩu đang diễn ra cùng với quá trình mở rộng sản xuất, đầu tư và chuyển dịch cơ cấu hàng hóa. Trong đó, nhập khẩu nguyên liệu, linh kiện, máy móc và thiết bị gắn với nhu cầu đầu tư, mở rộng công suất, đổi mới công nghệ và chuẩn bị cho các chu kỳ sản xuất, xuất khẩu tiếp theo.
Trong tiến trình tái cơ cấu ngành Công Thương, chất lượng tăng trưởng xuất nhập khẩu vì vậy không chỉ được xem xét qua quy mô kim ngạch hay trạng thái cán cân thương mại ở từng thời điểm, mà còn ở cơ cấu, mục đích sử dụng hàng hóa nhập khẩu và khả năng chuyển hóa các đầu vào này thành năng lực sản xuất, sản phẩm và giá trị gia tăng trong nước. Đây cũng là cơ sở để doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cung ứng, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và tạo nền tảng cho tăng trưởng xuất khẩu bền vững.
Nhìn nhận nhập khẩu trong chu kỳ mở rộng sản xuất
Từ góc độ vĩ mô, ông Phan Đức Hiếu, Đại biểu Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội cho biết, diễn biến xuất nhập khẩu cần được đặt trong tổng thể mô hình tăng trưởng của nền kinh tế, gắn với quá trình hội nhập, thu hút đầu tư, mở rộng thị trường và yêu cầu gia tăng giá trị trong nước. Bên cạnh quy mô và cán cân thương mại, cần quan tâm đến những tác động của các dòng thương mại đối với sản xuất, kinh doanh và các cân đối của nền kinh tế.
Phân tích về vấn đề này, bà Trịnh Thị Thu Hiền, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương cho rằng, cần đi sâu vào từng ngành hàng cụ thể để nhìn nhận đầy đủ hơn nguyên nhân của diễn biến nhập khẩu. Đơn cử, đối với ngành điện tử - một trong những nhóm hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn, đồng thời có sự tham gia sâu của các doanh nghiệp FDI và các chuỗi sản xuất toàn cầu, bà Hiền chỉ ra ba nhóm yếu tố gồm: trị giá nguyên liệu tăng cao; gia tăng tích trữ, tồn kho; và mở rộng sản xuất.
Yếu tố đầu tiên là sự gia tăng trị giá nguyên liệu đầu vào. Trong bối cảnh AI phát triển nhanh, theo thông tin được ghi nhận, giá một số vi mạch, chip và SSD phục vụ sản xuất các mặt hàng điện tử có thể tăng từ 300 - 500%. Vì vậy, ngay cả khi số lượng linh kiện nhập khẩu không tăng, trị giá nhập khẩu vẫn có thể tăng mạnh do tác động của giá.
Lãnh đạo Cục Xuất nhập khẩu dẫn ví dụ, nếu năm trước doanh nghiệp nhập 1.000 chip và năm nay vẫn nhập 1.000 chip nhưng giá chip tăng mạnh thì kim ngạch nhập khẩu sẽ tăng tương ứng. Thực tế tại một số doanh nghiệp thuộc hệ thống Samsung cũng cho thấy, dù vẫn xuất siêu nhưng mức xuất siêu giảm so với cùng kỳ năm trước do giá nguyên liệu đầu vào tăng cao.
Yếu tố thứ hai là việc doanh nghiệp tăng tích trữ và tồn kho để phục vụ sản xuất trong tương lai. Qua làm việc với một số doanh nghiệp điện tử và sản xuất máy tính, Cục Xuất nhập khẩu ghi nhận, trước tình trạng khan hiếm nguyên liệu đầu vào, một số nhà máy và chuỗi công ty đa quốc gia đã chủ động nâng mức dự trữ.
“Có những doanh nghiệp hiện nay đã có dự trữ tồn kho đến tháng 3/2027. Ví dụ, vòng đời liên quan đến dự trữ tồn kho trước kia thông thường là 6 tuần thì nay có trường hợp đã được nâng lên thành 12 tuần”, bà Trịnh Thị Thu Hiền thông tin. Theo bà, tại một số doanh nghiệp, giá trị tồn kho và tích lũy nguyên liệu từ mức khoảng 100 triệu USD đã tăng lên tới 700 triệu USD. Khi số liệu của các doanh nghiệp được cộng gộp, việc gia tăng dự trữ này cũng làm tăng kim ngạch nhập khẩu của ngành điện tử.
Yếu tố thứ ba là quá trình mở rộng sản xuất, tạo thêm tài sản cố định của các chuỗi doanh nghiệp đa quốc gia tại Việt Nam. Bà Hiền dẫn trường hợp Samsung Thái Nguyên mở rộng sản xuất với quy mô tăng thêm 1,8 tỷ USD; Intel chuyển hoạt động sản xuất từ Costa Rica sang Việt Nam; BYD tại Phú Thọ cũng mở rộng và tăng thêm công suất nhà máy.
Theo bà, những diễn biến này cho thấy quá trình tạo lập tài sản cố định và mở rộng các chuỗi nhà máy sản xuất cũng kéo theo nhu cầu nhập khẩu đầu vào và có thể là một trong những nguyên nhân tác động đến cán cân thương mại của riêng ngành điện tử.
Bà Trịnh Thị Thu Hiền đồng thời lưu ý, ba nhóm nguyên nhân trên được phân tích riêng đối với ngành điện tử, không áp dụng cho tất cả các ngành, lĩnh vực. Tuy nhiên, việc đi sâu vào một ngành hàng cụ thể cho thấy cần xem xét kỹ nội hàm phía sau số liệu nhập khẩu, thay vì chỉ nhìn vào chênh lệch giữa kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu.
Một yếu tố khác được bà Hiền đặt ra là cần xem xét đồng thời cán cân thương mại và cán cân thanh toán. Theo bà, nhiều doanh nghiệp điện tử tại Việt Nam hiện sản xuất, gia công theo chỉ định của công ty mẹ ở nước ngoài, trong đó công ty mẹ cung cấp nguyên vật liệu và thanh toán chi phí nguyên liệu. Vì vậy, số liệu cán cân thương mại của một ngành hàng có thể ghi nhận nhập siêu, nhưng cần tiếp tục kiểm tra, đối chiếu với cán cân thanh toán để có đánh giá đầy đủ hơn.
Nhìn sâu vào bản chất vấn đề, phía sau sự gia tăng kim ngạch nhập khẩu có thể đồng thời tồn tại nhiều yếu tố, từ biến động giá nguyên liệu, chiến lược dự trữ đầu vào đến quá trình mở rộng công suất và hình thành tài sản sản xuất mới. Điều quan trọng tiếp theo là những nguồn lực đầu vào này được hấp thụ và chuyển hóa như thế nào thành năng lực sản xuất, sản phẩm và giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
Chuyển hóa nguồn lực nhập khẩu thành năng lực sản xuất
Theo ông Phan Đức Hiếu, đối với hoạt động xuất nhập khẩu, một yêu cầu quan trọng là phải gia tăng giá trị, đặc biệt cho doanh nghiệp trong nước. Muốn vậy, doanh nghiệp Việt Nam cần tham gia, kết nối nhiều hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, tăng khả năng cung cấp nguyên vật liệu trong nước cho các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu; đồng thời bản thân doanh nghiệp phải nâng cao năng lực để tham gia trực tiếp hơn vào các hoạt động kinh tế trong nước và quốc tế.
Ông Phan Đức Hiếu cho rằng các chủ trương, định hướng và giải pháp đã khá rõ, vấn đề quan trọng là chuyển biến thành thực tiễn. Bên cạnh việc hoàn thiện khung chính sách, cần có các chương trình cụ thể để kết nối doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài và hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất.
“Xét về bản chất, xuất khẩu hay nhập khẩu không chỉ là mở rộng thị trường mà trước hết phải dựa trên năng lực sản xuất ra những sản phẩm thực sự có chất lượng và sức cạnh tranh. Vì vậy, các chương trình nâng cao năng lực sản xuất cần được coi là giải pháp căn bản”, ông Hiếu nhấn mạnh.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao, nhu cầu đầu tư, mua sắm trang thiết bị và tư liệu sản xuất cho các chu kỳ sản xuất mới cũng mở ra cơ hội để phát triển năng lực sản xuất trong nước. Do vậy, theo ông Hiếu, cần biến những cơ hội từ nhập khẩu thành cơ hội cho doanh nghiệp trong nước, với các giải pháp mang tính dài hạn, thực sự nâng cao năng lực sản xuất và tận dụng được cơ hội của nền kinh tế.
Từ thực tiễn ngành điện tử - ngành có độ mở lớn và sự tham gia sâu của khu vực FDI - bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA) cho rằng, để chuyển hóa hiệu quả nguồn lực đầu vào và nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất khẩu, doanh nghiệp Việt Nam cần cải thiện đồng thời nhiều khâu, trong đó tập trung vào bốn nhóm vấn đề.
Thứ nhất là năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo. Theo bà Hương, không thể kỳ vọng gia tăng giá trị nếu doanh nghiệp chỉ thực hiện những công đoạn có biên lợi nhuận thấp. Doanh nghiệp cần đầu tư vào tự động hóa, số hóa, AI, thiết kế sản phẩm, quản trị dữ liệu, kiểm soát chất lượng và nghiên cứu phát triển. Đây là những nền tảng để chuyển máy móc, công nghệ và nguyên vật liệu nhập khẩu thành năng suất và sản phẩm mới, thay vì chỉ trở thành đầu vào cho hoạt động gia công.
Thứ hai là nâng cao năng lực công nghiệp hỗ trợ của doanh nghiệp Việt Nam. Khi trong nước chưa sản xuất được các linh kiện, vật liệu, khuôn mẫu, thiết bị và dịch vụ kỹ thuật cần thiết, quy mô sản xuất điện tử càng tăng thì nhu cầu nhập khẩu đầu vào cũng tăng theo. Do đó, cùng với mở rộng sản xuất cần phát triển hệ sinh thái nhà cung ứng trong nước.
Đại diện VEIA đánh giá, việc Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2030, với mục tiêu nâng cao năng lực sản xuất trong nước, tăng tỷ lệ nội địa hóa và thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, là một định hướng quan trọng.
Thứ ba là tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp Việt Nam và khu vực FDI. Theo bà Hương, các tập đoàn FDI không chỉ mang đến nguồn vốn mà còn có công nghệ, tiêu chuẩn quản trị, hệ thống kiểm soát chất lượng và mạng lưới thị trường toàn cầu. Nếu trở thành nhà cung ứng đạt chuẩn cho các tập đoàn này, doanh nghiệp Việt Nam vừa có thể nâng cao năng lực sản xuất, vừa có cơ hội tham gia các chuỗi cung ứng quốc tế.
Tuy nhiên, liên kết không nên chỉ dừng lại ở các hoạt động gặp gỡ, kết nối cung - cầu mà cần gắn với quá trình nâng cấp năng lực của doanh nghiệp. Cần xác định cụ thể các tập đoàn FDI cần sản phẩm, linh kiện, vật liệu hay công đoạn nào; doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu năng lực gì, từ đó xác định vai trò và nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước, hiệp hội, các tổ chức hỗ trợ và các bộ, ngành.
Thứ tư là khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường quốc tế. Doanh nghiệp điện tử hiện không chỉ phải đáp ứng yêu cầu về giá cả và chất lượng mà còn phải đáp ứng ngày càng nhiều tiêu chuẩn về môi trường, phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc, hóa chất, lao động, ESG và các yêu cầu của chuỗi cung ứng. Vì vậy, theo bà Hương, công nghiệp hỗ trợ Việt Nam không chỉ cần sản xuất được linh kiện mà phải hướng tới sản xuất linh kiện đạt chuẩn quốc tế, đáp ứng yêu cầu xanh, có khả năng truy xuất nguồn gốc và năng lực đổi mới liên tục.
Những yêu cầu này cũng được nhìn thấy từ thực tiễn tại Quảng Ninh. Phó Giám đốc Sở Công Thương Quảng Ninh Lê Hồng Giang đánh giá, năng lực của doanh nghiệp trong nước vẫn còn hạn chế về quy mô, năng lực kinh doanh và công nghệ, trong khi yêu cầu của chuỗi cung ứng ngày càng cao về chất lượng, số lượng, tiến độ giao hàng, truy xuất nguồn gốc, môi trường và trách nhiệm xã hội.
Cùng với đó, công nghiệp hỗ trợ và khả năng cung ứng tại chỗ chưa tương xứng với nhu cầu phát triển. Các doanh nghiệp FDI có nhu cầu về linh kiện, nguyên liệu, bao bì, logistics và nhiều sản phẩm, dịch vụ phục vụ sản xuất, nhưng khả năng đáp ứng của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, khiến một phần đáng kể đầu vào vẫn phải nhập khẩu.
Liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trên địa bàn cũng chưa sâu. Theo ông Lê Hồng Giang, mặc dù Quảng Ninh thu hút được nhiều dự án FDI, hiệu ứng lan tỏa về công nghệ, quản trị và phát triển nhà cung cấp nội địa chưa đạt như kỳ vọng. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để nguồn lực nhập khẩu và dòng vốn đầu tư không chỉ tạo thêm quy mô sản xuất mà còn góp phần hình thành năng lực sản xuất mới và từng bước phát triển hệ thống nhà cung ứng trong nước.
Chuyển hóa nguồn lực nhập khẩu thành năng lực sản xuất không chỉ phụ thuộc vào quy mô đầu tư hay lượng máy móc, nguyên vật liệu được đưa vào nền kinh tế. Quá trình này còn gắn với năng lực công nghệ, công nghiệp hỗ trợ, chất lượng doanh nghiệp trong nước, mức độ liên kết với khu vực FDI và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn của chuỗi cung ứng. Đây cũng là những vấn đề cần được giải quyết để gia tăng phần giá trị được tạo ra và giữ lại trong nước.
Nâng cao năng lực sản xuất, tạo nền tảng cho tăng trưởng xuất khẩu bền vững
Từ những vấn đề đặt ra đối với chất lượng tăng trưởng xuất nhập khẩu, bà Trịnh Thị Thu Hiền cho biết, Bộ Công Thương, cụ thể là Cục Xuất nhập khẩu, đang xây dựng, hoàn thiện và triển khai đồng bộ một số nhóm giải pháp.
Trước hết là nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách. Thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ tại cuộc họp liên quan đến thúc đẩy xuất khẩu và kiểm soát nhập siêu, các nhiệm vụ, giải pháp theo Thông báo Kết luận số 443 đang được triển khai.
Cùng với đó là các giải pháp về thị trường. Theo bà Hiền, bên cạnh mở rộng thị trường, cần khai thác tốt hơn các thị trường hiện có, trong đó phát huy lợi thế từ các hiệp định thương mại tự do. Để được hưởng ưu đãi thuế quan, hàng hóa phải đáp ứng quy tắc xuất xứ, đòi hỏi doanh nghiệp có sự chuẩn bị trong kế hoạch sản xuất, kinh doanh. Ngoài xuất xứ hàng hóa, doanh nghiệp cũng phải đáp ứng ngày càng nhiều quy định liên quan đến phát triển bền vững, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Một nhóm giải pháp khác là đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp. Hoạt động này không chỉ dừng lại ở cung cấp thông tin về thị trường mà còn tập trung tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn trong quá trình sản xuất, xuất nhập khẩu của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, theo lãnh đạo Cục Xuất nhập khẩu, về lâu dài vẫn phải trở lại vấn đề cốt lõi là nền sản xuất. Năng lực sản xuất cần được nâng cao; dây chuyền, thiết bị không chỉ phục vụ mục đích gia công mà cần góp phần nâng cao năng lực nội tại của ngành sản xuất, tăng khả năng chủ động đối với sản phẩm được sản xuất, chế tạo. Đồng thời, sản xuất phải đáp ứng các yêu cầu về xuất khẩu bền vững và tăng cường liên kết trong các chuỗi, trong đó có liên kết với doanh nghiệp FDI.
“Cuối cùng, chúng ta thấy rằng phải nâng cao giá trị gia tăng nội bộ trong chính tiềm lực của ngành sản xuất Việt Nam. Từ đó mới có căn cứ, có cơ sở, có nền móng vững chắc để có thể thúc đẩy xuất khẩu một cách bền vững và lâu dài”, bà Trịnh Thị Thu Hiền nhấn mạnh.
Tại Quảng Ninh, các giải pháp cũng được xác định theo hướng gắn phát triển xuất khẩu với nâng cao năng lực sản xuất và tạo nguồn hàng tại chỗ. Theo ông Lê Hồng Giang, địa phương sẽ tập trung thu hút FDI vào sản xuất, chế biến sâu, công nghiệp hỗ trợ, điện tử, cơ khí công nghệ cao và logistics, ưu tiên các dự án có khả năng tạo chuỗi cung ứng, liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Đồng thời, Quảng Ninh sẽ quan tâm hơn đến việc tạo nguồn hàng tại chỗ từ nguyên liệu, chế biến, đóng gói, logistics đến xuất khẩu, hạn chế tình trạng hàng hóa chỉ đi qua địa bàn nhưng chưa tạo ra nhiều giá trị gia tăng.
Một trọng tâm khác là xây dựng chương trình kết nối doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp FDI. Sở Công Thương sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan rà soát nhu cầu của doanh nghiệp FDI, tổ chức kết nối với doanh nghiệp trên địa bàn, qua đó thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Cùng với đó, địa phương tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp nâng chuẩn để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu và tận dụng tốt hơn các FTA; phát huy lợi thế cửa khẩu, cảng biển, thúc đẩy phát triển hệ thống kho bãi, trung tâm logistics theo quy hoạch; triển khai cửa khẩu thông minh, tự động hóa, số hóa, chia sẻ dữ liệu và thuận lợi hóa thương mại.
Đáng chú ý, ông Lê Hồng Giang cho biết Quảng Ninh sẽ chuyển mạnh xúc tiến thương mại sang xúc tiến chuỗi cung ứng. Bên cạnh tạo cơ hội cho doanh nghiệp tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại, địa phương sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp kết nối, chủ động làm việc với nhau và mở rộng cơ hội hợp tác.
Từ góc độ hiệp hội ngành hàng, bà Đỗ Thị Thúy Hương cho biết, Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam xác định trọng tâm thời gian tới là hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cấp năng lực để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng điện tử và bán dẫn toàn cầu, thay vì chỉ đơn thuần tìm kiếm đơn hàng.
Theo đó, Hiệp hội sẽ đẩy mạnh kết nối cung - cầu giữa doanh nghiệp Việt Nam với các tập đoàn điện tử, bán dẫn và doanh nghiệp FDI; đồng thời xác định những nhóm sản phẩm, linh kiện, vật liệu, công đoạn mà doanh nghiệp Việt Nam có khả năng tham gia để xây dựng chương trình phát triển nhà cung ứng theo từng nhóm ngành, nhóm sản phẩm.
Cùng với đó là hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực công nghệ, quản trị chất lượng và tiêu chuẩn quốc tế, trong đó chú trọng các tiêu chuẩn về môi trường, ESG, truy xuất nguồn gốc, quản lý hóa chất, an toàn sản xuất và chuyển đổi số. Theo bà Hương, đây là những điều kiện ngày càng quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam không chỉ trở thành nhà cung ứng cấp hai, cấp ba mà có thể từng bước trở thành nhà cung ứng cấp một trong chuỗi.
Hiệp hội cũng sẽ tăng cường xúc tiến thương mại, kết nối quốc tế, đặc biệt với các thị trường và trung tâm sản xuất lớn của ngành điện tử, qua đó giúp doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận trực tiếp với khách hàng, công nghệ và mạng lưới nhà cung ứng toàn cầu. Đồng thời, Hiệp hội tiếp tục tham gia đóng góp chính sách, phản ánh từ thực tiễn doanh nghiệp những điểm nghẽn liên quan đến thuế, thủ tục xuất nhập khẩu, tiêu chuẩn kỹ thuật, nguyên liệu đầu vào, vật tư, công nghệ và phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Đặc biệt, bà Đỗ Thị Thúy Hương cho rằng cần nhìn nhận xuất khẩu và nhập khẩu trong cùng một chuỗi giá trị, thay vì tách rời hai dòng này. Nếu doanh nghiệp nhập khẩu máy móc, thiết bị, linh kiện, nguyên vật liệu để mở rộng sản xuất và tạo ra những sản phẩm mới có giá trị gia tăng nội địa cao thì cần tạo điều kiện phù hợp.
Do vậy, cần chuyển tư duy từ hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất để xuất khẩu sang hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực để từng bước thay thế những đầu vào có thể sản xuất được trong nước.
Một vấn đề khác là gắn chính sách thu hút FDI với chính sách phát triển doanh nghiệp trong nước. Mục tiêu không chỉ là thu hút những doanh nghiệp điện tử lớn mà còn làm thế nào để mỗi dự án FDI trở thành một hạt nhân, kéo theo mạng lưới doanh nghiệp Việt Nam tham gia cung ứng, tiếp nhận các tiêu chuẩn, đào tạo nhân lực và từng bước nâng cao năng lực công nghệ.
Ở góc độ dài hạn, ông Phan Đức Hiếu, Đại biểu Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội cho rằng yêu cầu tăng trưởng cần được coi là cơ hội để nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Trước mắt, việc nhập khẩu tư liệu sản xuất, máy móc, thiết bị có thể cần thiết, nhưng về lâu dài các chương trình, giải pháp cần hướng tới từng bước thay thế những máy móc, tư liệu sản xuất có khả năng sản xuất trong nước.
Bên cạnh liên kết với khu vực FDI và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, ông Phan Đức Hiếu cũng đề xuất quan tâm hơn đến việc phát triển các chuỗi giá trị do doanh nghiệp Việt Nam dẫn dắt. Theo đó, cần có những doanh nghiệp Việt đủ năng lực đứng đầu chuỗi, vươn ra thị trường nước ngoài và kéo theo mạng lưới doanh nghiệp nội địa cùng tham gia.
Đối với hoạt động xuất nhập khẩu, ông lưu ý yêu cầu minh bạch về nguồn gốc xuất xứ và ghi nhãn hàng hóa, đặc biệt đối với sản phẩm xuất khẩu sang những thị trường Việt Nam có mức xuất siêu lớn. Việc kiểm soát, tuân thủ và kịp thời cung cấp thông tin, giải trình cần được thực hiện chặt chẽ.
Đối với sản xuất trong nước, cùng với nâng cao chất lượng chứng nhận xuất xứ và ghi nhãn hàng hóa, ông cho rằng cần thường xuyên đấu tranh với các hành vi vi phạm sở hữu trí tuệ. Đây cũng là điều kiện để bảo vệ thành quả nghiên cứu, phát triển sản phẩm của doanh nghiệp và góp phần nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
Nhìn tổng thể, nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất nhập khẩu đòi hỏi phải gắn kết chặt chẽ hơn giữa nhập khẩu, sản xuất và xuất khẩu. Nguồn lực nhập khẩu, nhất là máy móc, thiết bị, nguyên liệu và linh kiện phục vụ sản xuất, cần được chuyển hóa thành năng lực công nghệ, năng suất, sản phẩm mới và giá trị gia tăng trong nước; đồng thời từng bước phát triển nguồn cung nội địa và nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt Nam.
Qua đó, nhập khẩu đầu vào, mở rộng sản xuất, gia tăng xuất khẩu và tái đầu tư có thể được kết nối thành một chu trình, trong đó năng lực sản xuất và phần giá trị được tạo ra trong nước trở thành nền tảng cho tăng trưởng xuất nhập khẩu theo hướng bền vững.
