Xã hội Nhật là xã hội tiêu thụ hàng hóa lớn, vì người Nhật có mức thu nhập bình quân cao trên thế giới (năm 2001, GDP bình quân đầu người của Nhật là 37.560 USD/người/năm, xếp thứ hai trên thế giới). Cuộc sống của người Nhật nói chung rất tiện nghi. Một xã hội tiêu thụ hàng loạt, đồng nghĩa với việc vứt bỏ hàng loạt. Bạn có thể tìm thấy đủ thứ có thể tái sử dụng trong một thùng rác công cộng ở Nhật, từ mỹ phẩm quá “đát”, các loại bình, chai nước ngọt bằng nhựa, rác nhà bếp... Kinh tế Nhật suốt thời kỳ 1953-1973 đạt mức tăng trưởng với tốc độ nhanh chưa từng thấy (tốc độ tăng trưởng trung bình của thời kỳ này đạt 8%/năm và 10,6%/năm trong thập kỷ 60). Sản lượng bình quân năm 1970 cao gấp 2,5 lần những năm 1960 và đến năm 1968, Nhật đã trở thành nước có nền kinh tế đứng thứ 2 thế giới. Sự tăng trưởng kinh tế thần kỳ này lại kéo theo hậu quả là người Nhật Bản hầu như không quan tâm đến vấn đề tài nguyên hữu hạn, vốn rất hạn chế ở Nhật và tỷ lệ thuận giữa phát triển kinh tế với ô nhiễm môi trường.
Người ta không thể vứt bỏ mọi thứ mà họ không cần nữa như thế mãi, vì như vậy rất lãng phí, đồng thời làm ô nhiễm môi sinh. Một ngày nào đó, thế giới nói chung và nước Nhật nói riêng sẽ khô cạn tài nguyên. Khai thác tài nguyên trước hết tác động xấu đến môi trường, và sử dụng những tài nguyên này vào sản xuất cũng làm nhiễm độc không khí và nguồn nước. Vứt chúng đi sau khi sử dụng là nối tiếp chu kỳ ô nhiễm.
Những công trình nghiên cứu biện pháp tái sử dụng rác thải ở Nhật bắt đầu từ thập kỷ 80. Người Nhật trong quá khứ lãng phí những nguyên liệu có thể tái chế này bao nhiêu thì giờ đây, họ càng hăng hái, quan tâm, tìm mọi phương cách phát triển công nghệ tái chế bấy nhiêu, cứ như là người Nhật vừa tìm được một mỏ vàng vô tận. Các nước phương Tây như Đức, Thụy Điển…đã đi trước Nhật rất lâu trong công cuộc này, nên người Nhật xác định phải tăng tốc. Kể từ năm 1990, công nghệ tái chế ở Nhật bắt đầu có biến chuyển cùng với việc Chính phủ thông qua một số đạo luật, như Luật xúc tiến việc sử dụng những nguồn tài nguyên có thể tái chế năm 1991, hay Luật cơ bản về môi sinh năm 1993, Luật xúc tiến việc thu gom, phân loại và tái chế bao bì năm 1995. Ngoài ra, trong 2 năm 1991 và 1997, Luật về rác thải và vệ sinh công cộng của Nhật cũng được tu chỉnh 2 lần… Những biện pháp trên đã góp phần phát triển hệ thống tái chế những vật dụng và rác phế thải ở xứ xở hoa anh đào.
Nước Nhật, một xã hội chỉ biết vứt bỏ, đã bắt đầu biết tái chế một cách nghiêm túc.
ở Nhật hiện nay, công việc tái chế, hầu như ai cũng tham gia. Đồ nhựa được làm từ nguyên liệu sợi polyeste tái chế là chuyện thường gặp. Nhưng quần áo, bàn ghế, chén đĩa…cũng đã được người Nhật làm từ nhựa. Rác nhà bếp trở thành phân bón tổng hợp cho cây trồng. Các mảnh vụn từ lỗ đục cạc điện thoại di động làm thành những bức tranh “khảm” khổng lồ, công phu, nhiều màu sắc, đẹp mắt. Vụn thủy tinh trở thành gạch lát nền… Còn gì mà người Nhật chưa đạt được trong công nghệ tái chế những thập kỷ gần đây?
Vào thời điểm “tái chế” vừa xuất hiện ở Nhật và chưa trở thành trào lưu, nhiều người nghi ngờ rằng, thành phẩm tái chế sẽ đắt và kém phẩm chất. Nhưng các công ty, hãng kinh doanh Nhật Bản đã cho thấy sự kỳ diệu của công nghệ tái chế và tái chế sinh lợi vô cùng. Khi cuộc khủng hoảng dầu thế giới lần thứ hai xảy ra, năm 1979, nước Nhật cũng rơi vào tình trạng lao đao do nguồn nhiên liệu nhập khẩu bỗng nhiên bị giảm sút. Thay vì ngồi bó tay phó mặc cho số phận, các doanh nhân Nhật tìm cách tạo cho được nguồn nguyên liệu cho riêng mình. Công ty TNHH Negoro Sangyo đã khám phá ra rằng, những mẩu thừa ở đầu băng video thải ra có thể dùng tái chế sợi polyeste để làm thảm. Thậm chí, cạc điện thoại, phim chụp ảnh, bình nhựa… những sản phẩm làm từ polyetylen terephtalet, đều có thể tái chế để sản xuất ra sợi polyeste. Thoạt đầu, họ kết hợp dùng sợi polyeste tái chế cùng với sợi acrylic mới, nhưng cách làm này gặp khó khăn trong khâu nhuộm, vì sợi làm từ chất polyeste không ăn màu đều. Một giải pháp hữu hiệu được đề xuất và ứng dụng thành công: Công ty này thực hiện gia màu ngay khi nấu chảy nguyên liệu, và họ nhuộm sợi thành 60 màu. Phí tổn nhuộm giảm, màu sắc trở nên phong phú, đáp ứng đúng nhu cầu màu sắc mà khách hàng mong muốn. Bước tiếp theo là tái chế những sản phẩm đã được tái chế: Thực hiện thí nghiệm chế tạo những tấm thảm cho sàn xe hơi từ chính những tấm thảm cũ mà họ làm ra từ sợi tái chế.
Người Nhật đã tiết kiệm được tài nguyên và năng lượng, bằng việc tái chế các chai thuỷ tinh. Điều này có vẻ khó tin? Người Nhật đã làm thế này: Đơn giản nhất là rửa sạch các chai thuỷ tinh rồi dùng lại, hoặc làm nát chúng ra rồi nấu chảy để làm chai mới, theo cách thủ công nhất mà nhiều nước trên thế giới vẫn đang làm . Nhưng có một công ty ở Tokyo không vừa lòng với những cách làm này. Họ phát triển một quy trình, trong đó hoà những phân tử thuỷ tinh với đất sét, một việc mà trước đây ít thực hiện được vì rất khó khăn về phương diện kỹ thuật. Đó là Công ty TNHH Đất sét thuỷ tinh Tokyo. Công ty này đã chế tạo một loại gạch men mới, có thể dùng để lát vỉa đường và mé ngoài của các toà nhà. Những “khối đất sét thuỷ tinh” này, theo cách gọi vui của Công ty, đem lại rất nhiều lợi ích. Chúng chứa đựng những mảnh vụn thuỷ tinh không cần phải phân loại theo màu. Những khối này gồm khoảng 70% thuỷ tinh, giúp giảm lượng đất sét dùng, vì vậy, có thể bảo vệ một nguồn tài nguyên quý giá. Trong một quy trình chế tạo mới, những khối này được nung ở nhiệt độ 1.000C, thấp hơn quy trình cũ 200, giúp tiết kiệm năng lượng và giảm đến 26% lượng khí tán thải ra trong suốt quá trình chế tạo.
ở hầu hết các thành phố, rác nhà bếp bị ném chung với các loại rác thải khác, rồi chúng cùng chung số phận: Bị đem thiêu hoặc chôn tại các bãi lấp, và như vậy hoặc lãng phí hoặc làm ô nhiễm không khí bởi mùi rác thải. Tuy nhiên, ở thành phố Nagai, thuộc tỉnh Yamagata, phía Bắc Tokyo, cách Tokyo chừng 3 tiếng xe lửa, rác nhà bếp lại không bị vứt đi uổng phí như vậy. Khoảng 4.900 hộ gia đình nội thành của thành phố này tách rác nhà bếp riêng khỏi các loại rác khác. Họ làm cho rác càng khô ráo càng tốt, sau đó bỏ chúng vào trong những thùng tái chế. Mỗi tuần hai lần, họ mang những thùng đó đổ vào những thùng lớn đặt tại những trạm thu gom trong khu phố. Xe vệ sinh của thành phố sẽ chở rác đó đến trung tâm để trộn với phân thú vật, trấu và một số chất hữu cơ khác. Hỗn hợp này được để lên men trong khoảng 80 ngày. Sau đó, chúng được tách thành từng hạt nhỏ và loại đi những thành phần không cần thiết với công cụ là một chiếc máy sấy. Kết quả là hỗn hợp này biến thành một thứ phân bón giàu dinh dưỡng, được đóng gói để bán, với giá khoảng 280 yên/bao (15 kg). ý tưởng tái chế rác thành phân bón hoá ra lại là của nông dân chuyên trồng lúa và nuôi gà, chứ không phải của bất cứ nhà khoa học danh tiếng nào.
Tái chế không chỉ sinh lợi, tiết kiệm tài nguyên, giảm thiểu tác hại xấu đến môi trường mà còn là công việc mang lại cái đẹp, cái vui cho đời. Năm 1993, Chính phủ Nhật đã cho phép ngành xây dựng sử dụng ống giấy trong kết cấu xây dựng. Năm 1995, kiến trúc sư Ban Shigeru đã cùng những người tình nguyện xây dựng Nhà Cộng đồng (Community Dome), gồm 58 cây cột bằng giấy, mỗi cây cao 5m, đường kính 33cm, nâng một mái vòm hình bầu dục xinh xắn, ngay tại địa điểm thuộc vùng Kobe, nơi vừa xảy ra trận động đất kinh hoàng, với mong muốn đem lại cảm giác an bình cho những nạn nhân sau trận động đất.
Những chậu cây làm từ giấy loại (tận dụng giấy các tông, báo cũ và giấy vở viết rồi của học sinh…) là một ý tưởng sáng chế khác rất được ủng hộ ở Nhật Bản, mặc dù giá thành của một chậu giấy có thể đắt hơn chậu nhựa từ 3 đến 6 yên. Rồi những bức tranh khổng lồ như những tấm phông lớn với màu sắc đa dạng, cầu kỳ như những bức khảm trai, hay những bánh xà phòng giặt không mùi rất an toàn cho da và giúp quần áo trắng sạch hơn, đặc biệt hợp với máy giặt, thật ngạc nhiên là chúng được làm từ chất thải dầu ăn! “Hoạ sỹ” của những bức tranh lỗ, đục, cạc, điện thoại, nhựa, Anh Yamahatsu yoshiyuki, tự hào kể về niềm vui của người sáng tạo từ những vật dụng tưởng chừng bỏ đi, khi ngắm nhìn những tác phẩm nghệ thuật của mình, mặc dù một bức tranh khổ lớn tốn 12 tháng và mất 250.000 mảnh vụn màu để hoàn thành.
Người Nhật có câu châm ngôn đồng thời là cách xử thế truyền thống: “Mizu ni nagasu” (Cứ để nó trôi đi theo dòng nước), nghĩa là con người sống phải biết tha thứ và quên đi. Nhưng trước hết, nghĩa đen của câu này là “cứ vứt xuống sông là xong”…Câu nói này từng đúng với người Nhật cả nghĩa đen và nghĩa bóng, nhưng từ hơn 3 thập kỷ nay, cùng với sự phát triển của công nghệ tái chế, người Nhật đã không còn thói quen đốt rác sau vườn hoặc ném chúng đi nữa. Thay vào đó, họ giao rác…cho các nhà chức trách thành phố và trở thành khách hàng của những sản phẩm tái chế từ rác thải của mình.
