Những vùng và địa phương được đánh giá có tốc độ tăng trưởng cao là vùng đồng bằng sông Hồng (tăng 23,6%/năm), vùng duyên hải miền Trung (tăng 16,92%/năm), vùng Đông Nam Bộ tăng 21,53%/năm, vùng đồng bằng sông Cửu Long (tăng 16,28%/năm). Sau 5 năm, số lượng các cơ sở sản xuất đã tăng từ 4.575 cơ sở (năm 2001) lên 11.238 cơ sở (năm 2005). Trong đó, các ngành công nghiệp khai thác, dệt-may, da-giày, cơ khí-điện tử, chế biến gỗ, mây tre được đánh giá là tăng trưởng mạnh, đạt từ 25%/năm-60%/năm.
Sự phát triển của công nghiệp nông thôn 5 năm qua đã góp phần đa dạng hoá các loại hình sở hữu. Các công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn không ngừng tăng về số lượng. Các khu công nghiệp vừa và nhỏ, các cụm điểm CN-TTCN từng bước được hình thành và phát triển đã giải quyết những khó khăn về việc làm, về mặt bằng SX và ô nhiễm môi trường.
Công nghiệp nông thôn bước đầu đã có sự chuyển đổi tích cực về cơ cấu sản phẩm. Nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh đã mạnh dạn chuyển đổi mặt hàng sản xuất, đi đôi với đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng những nhu cầu và đòi hỏi mới của thị trường. Làng rèn Đa Hội (ở Châu Khê, Tiên Sơn, Bắc Ninh) trước đây nổi tiếng với nghề truyền thống là rèn các nông cụ như cuốc, xẻng, cầy bừa…, nay do sự thay đổi về cơ cấu sản xuất nông nghiệp nông thôn, chuyển dần sang sản xuất thép phục vụ cho nhu cầu xây dựng. Làng gốm Bát Tràng chuyển từ sản xuất gốm xây dựng dân dụng từ lò bầu đốt củi, than, sang sản xuất gốm mỹ nghệ bằng ga để phục vụ xuất khẩu. Làng Đồng Kỵ (ở Tiên Sơn, Bắc Ninh), làng La Xuyên (ở ý Yên, Nam Định) chuyển mạnh từ sản xuất đồ gỗ thủ công mỹ nghệ sang sản xuất các đồ gỗ xuất khẩu.
Công nghiệp nông thôn phát triển đã thu hút một lực lượng lao động khá đông đảo ở các địa phương vào làm việc trong các ngành công nghiệp. Trung bình hàng năm, thu hút gần 22 vạn lao động, chiếm 50,76% số lao động tăng thêm của toàn ngành Công nghiệp. Nhờ công nghiệp nông thôn phát triển mạnh đã góp phần thúc đẩy các hoạt động dịch vụ thương mại, cung ứng nguyên phụ liệu, vận tải, kể cả đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ và các dịch vụ kỹ thuật khác, góp phần quan trọng vào quá trình đô thị hoá và hiện đại hoá nông thôn; hình thành nhiều thị tứ, điểm dân cư tập trung, trên cơ sở phát triển công nghiệp nông thôn.
Một số tồn tại và hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, công nghiệp nông thôn Việt Nam còn gặp một số tồn tại và hạn chế như quy mô và cơ sở vật chất còn nhỏ và lạc hậu, phát triển chưa đồng đều về ngành nghề ở địa phương; thiếu vốn, khả năng tiếp cận các nguồn vốn thấp; công nghệ thiết bị đa phần lạc hậu; năng suất mẫu mã và chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh còn kém; môi trường sản xuất ô nhiễm; trình độ nguồn nhân lực và quản lý chưa đáp ứng đủ yêu cầu, thiếu thông tin và liên kết kinh tế.
Theo khảo sát của Bộ Công nghiệp tại 18 tỉnh trong toàn quốc với 6 nhóm ngành nghề chủ yếu gồm khai thác, chế biến nông sản thực phẩm; dệt may; gốm sứ, thuỷ tinh, VLXD; cơ khí điện tử; chế biến gỗ, mây tre thì ngành cơ khí điện tử được đánh giá có mức trang bị kỹ thuật cao nhất (với 68,8% ở trình độ bán cơ khí); ngành gốm sứ, thuỷ tinh, VLXD (với 49% ở trình độ bán cơ khí); tiếp theo là các ngành dệt may, chế biến nông sản thực phẩm; ngành chế biến gỗ, mây tre (74,8%); và cuối cùng là ngành khai thác (có tới 84,54% số cơ sở được khảo sát có trình độ thủ công).
Các cơ sở sản xuất, kể cả hộ sản xuất cá thể luôn gặp khó khăn trong việc tạo mặt bằng sản xuất. Cho đến nay, tình trạng này vẫn chưa được cải thiện nhiều. Qui mô nhà xưởng của các cơ sở hầu hết có trị giá dưới 300 triệu đồng, thấp nhất là 50 triệu đồng. Việc đầu tư máy móc thiết bị cho sản xuất cũng hết sức khiêm tốn, nhất là ở các hộ cá thể. Chỉ có khoảng 20,2% trong tổng số các cơ sở được khảo sát đầu tư trên 500 triệu đồng cho máy móc thiết bị, còn lại phần lớn mới chỉ dừng ở mức đầu tư từ 100 - 300 triệu đồng.
Nhìn chung, quy mô vốn của các cơ sở công nghiệp nông thôn đều ở mức trung bình và nhỏ. Theo kết quả điều tra có tới 76,7% số cơ sở có vốn (bao gồm cả vốn cố định và vốn lưu động) nhỏ hơn 1 tỷ đồng, trong đó, có 42,4% số cơ sở có vốn nhỏ hơn 300 triệu đồng. Dù Nhà nước đã có khá nhiều cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn, song, thực tế khu vực công nghiệp nông thôn vẫn rất khó tiếp cận với các nguồn vốn của các tổ chức tín dụng. Chỉ có 57% số doanh nghiệp và 68% số hộ cá thể là có điều kiện vay vốn của các tổ chức tín dụng hợp pháp. Số còn lại, hoặc là sử dụng vốn tự có của cá nhân, hoặc vay từ các nguồn khác là anh em, họ hàng, người thân, kể cả phải vay nặng lãi. Việc tiếp cận các nguồn tài trợ của các chương trình quốc gia hoặc của các tổ chức quốc tế hầu như không có, các chương trình này chủ yếu phục vụ cho lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp hoặc xoá đói giảm nghèo cho khu vực nông thôn.
Chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn Việt Nam nói chung và công nghiệp nông thôn Việt Nam nói riêng được đánh giá đang ở mức thấp so với khu vực thành thị. Năm 2004, số lao động nông thôn qua đào tạo chỉ bằng 1/3 so với khu vực thành thị, trong đó, 35% lao động tại các doanh nghiệp, hợp tác xã chưa qua đào tạo tại các trường; 54-68% chưa được đào tạo chuyên môn. Khảo sát tại 292 cơ sở công nghiệp nông thôn cho thấy, có 64% trình độ lao động đạt mức trung bình và 15% có trình độ thấp. ở khu vực hộ sản xuất cá thể có tới 75% số hộ có trình độ lao động ở mức trung bình và chỉ có 10,8% số cơ sở có trình độ mức cao.
Định hướng phát triển công nghiệp nông thôn đến năm 2010
Với những hạn chế và tồn tại trên, giai đoạn từ 2006 – 2010, Bộ Công nghiệp đã xây dựng Đề án phát triển các ngành công nghiệp đến năm 2010 phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn với một số định hướng sau: Tập trung phát triển nhóm ngành có tính chất phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn gồm các ngành Điện, Cơ khí, Hoá chất. Theo đó, đến năm 2010, ngành Điện phấn đấu đạt 95% số hộ dân nông thôn có điện và đến năm 2020 đạt 100%; ngành Cơ khí phát triển tập trung, có chọn lọc một số phân ngành, và các sản phẩm cơ khí như máy động lực, thiết bị phục vụ cơ giới hoá khâu làm đất, thu hoạch, bảo quản sau thu hoạch, thiết bị chế biến…; ngành Hoá chất cung cấp những sản phẩm hoá chất cơ bản cho trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và bảo vệ môi trường.
Với nhóm ngành công nghiệp phát triển, thì ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản phấn đấu đến năm 2010 đạt kim ngạch xuất khẩu hơn 9 tỷ đồng, tỷ trọng chiếm khoảng hơn 30% tổng số kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp cả nước; Ngành SX VLXD phát triển sản xuất cả về số lượng, chất lượng, chủng loại thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước; Ngành công nghiệp khai thác chế biến khoáng sản phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân (từ 2001-2010) là 8-9%/năm.
Về tiểu thủ công nghiệp, tập trung phát triển những ngành nghề thủ công có nhiều tiềm năng, lựa chọn công nghệ và thiết bị phù hợp, kết hợp giữa công nghệ truyền thống và công nghệ tiên tiến, phát triển các mặt hàng mới, chú trọng xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường xuất khẩu…
Phát triển công nghiệp nông thôn giai đoạn 2006-2010 được thực hiện theo vùng kinh tế. Tuỳ theo các vùng, các ngành nghề sẽ được phát triển trên cơ sở các ưu tiên sau:
- Gắn với vùng nguyên liệu tại chỗ.
- Góp phần làm tăng giá trị của các loại nông, lâm, thuỷ sản.
- Trực tiếp phục vụ cho nông nghiệp và nông thôn, phục vụ xuất khẩu hoặc thay thế hàng nhập khẩu.
- Thu hút nhiều lao động, sử dụng lao động giản đơn hoặc đào tạo nghề trong thời gian ngắn.
