Tham dự Hội nghị có đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ, các Cục, Vụ, Viện, cơ sở giáo dục trực thuộc, cùng các cơ quan báo chí, truyền thông thuộc Bộ Công Thương.
Khung định hướng chiến lược
Việc triển khai phát triển công nghệ chiến lược của ngành Công Thương được đặt trong một khung pháp lý và định hướng chính sách đồng bộ. Về định hướng chiến lược dài hạn, Nghị quyết số 57-NQ/TW đã chỉ rõ yêu cầu tạo đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, qua đó hướng tới từng bước tự chủ công nghệ chiến lược. Song song với đó, nền tảng pháp lý cũng được củng cố vững chắc bởi Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15, Luật Công nghệ cao số 133/2025/QH15 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2026), cùng Nghị định số 260/2026/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Công nghệ cao.
Ở cấp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg về danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược. Ngay sau đó, Quyết định số 808/QĐ-TTg ngày 6/5/2026 được ban hành nhằm giao nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược cho 10 bộ, cơ quan trung ương thực hiện 20 nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong đó, Bộ Công Thương được giao chủ trì 3 nhiệm vụ lớn. Cùng với đó, Quyết định số 1493/QĐ-TTg ngày 6/8/2026 về Chương trình quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược đã đề ra các mục tiêu cụ thể đến năm 2030. Cụ thể, các mục tiêu này bao gồm: làm chủ 4 công nghệ chiến lược, thương mại hóa 15 sản phẩm (trong đó có 5 sản phẩm tại thị trường khu vực và quốc tế), đạt tỷ lệ nội địa hóa 40% đối với sản phẩm thương mại hóa, và hình thành 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược.
Nhằm hiện thực hóa và thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư số 40/2026/TT-BKHCN về xác nhận sản phẩm công nghệ chiến lược cùng các Thông tư số 42, 48, 49/2026/TT-BKHCN về nhiệm vụ đặt hàng. Trên cơ sở đó, ngày 4/9/2026, Bộ Công Thương đã kịp thời ban hành Quyết định số 2159/QĐ-BCT ban hành Kế hoạch triển khai Quyết định số 808/QĐ-TTg. Có thể nói, kế hoạch này đã góp phần cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ thuộc lĩnh vực Công Thương, đồng thời phân công rõ cơ quan quản lý nhà nước chủ trì, đơn vị phối hợp, doanh nghiệp triển khai, thời gian thực hiện và kết quả dự kiến.
Ba bài toán lớn của ngành Công Thương
Theo bà Nguyễn Thị Lâm Giang - Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số, trên cơ sở các văn bản chỉ đạo, ngành Công Thương đã cấu trúc Kế hoạch triển khai thành 3 bài toán lớn tương ứng với các lĩnh vực cốt lõi của ngành.
Bài toán thứ nhất là bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng cao; hiện đại hóa hệ thống điện - nhiên liệu xanh, thông minh và tự chủ. Nhiệm vụ này được triển khai trong giai đoạn 2026-2030 với mục tiêu bảo đảm cung cấp đầy đủ, ổn định và an toàn năng lượng cho yêu cầu tăng trưởng kinh tế cao. Đồng thời, nhiệm vụ hướng tới nâng cao năng lực tự chủ, dự trữ và điều hành hệ thống năng lượng quốc gia; hiện đại hóa hệ thống điện và nhiên liệu theo hướng linh hoạt, thông minh, phát thải thấp, tích hợp hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo và từng bước làm chủ các công nghệ then chốt.
Bài toán này xác định 4 nhóm công nghệ chiến lược bao gồm: công nghệ năng lượng và vật liệu tiên tiến; công nghệ số; công nghệ robot và tự động hóa; công nghệ biển, đại dương và lòng đất.
Bài toán thứ hai là tự chủ công nghiệp, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và nâng cấp chuỗi giá trị sản xuất xanh, thông minh, giá trị gia tăng cao. Việc giải quyết bài toán này nhằm hình thành năng lực tự chủ trong các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp trọng điểm, công nghiệp hỗ trợ và sản xuất - xuất khẩu chủ lực. Mục tiêu đặt ra là làm chủ các khâu cốt lõi về vật liệu, thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống, sản xuất thông minh và chế biến sâu; nâng tỷ lệ nội địa hóa, giá trị gia tăng, năng lực đáp ứng tiêu chuẩn xanh - số và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Bài toán này bao gồm 6 nhóm công nghệ chiến lược: công nghệ số; công nghệ robot và tự động hóa; công nghệ năng lượng và vật liệu tiên tiến; công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến; công nghệ biển, đại dương và lòng đất; công nghệ đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị.
Bài toán thứ ba là hiện đại hóa thương mại trong nước và ngoài nước bằng dữ liệu, logistics thông minh và chuỗi cung ứng tin cậy, tập trung vào mục tiêu hình thành năng lực điều hành thương mại quốc gia dựa trên dữ liệu thời gian thực; bảo đảm lưu thông hàng hóa thông suốt, minh bạch, an toàn và tin cậy. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ nhằm giảm chi phí logistics, nâng cao năng lực tuân thủ, truy xuất nguồn gốc, mở rộng thị trường và tăng sức cạnh tranh của hàng hóa cũng như doanh nghiệp Việt Nam.
Bài toán này huy động 2 nhóm công nghệ chiến lược cốt lõi là công nghệ số cùng công nghệ robot và tự động hóa.
22 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược
Tương ứng với 3 bài toán lớn, Kế hoạch của Bộ Công Thương xác định tổng cộng 22 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược, bao gồm 76 sản phẩm chi tiết. Các nhóm sản phẩm này được phân bổ cụ thể theo 3 lĩnh vực năng lượng, công nghiệp và thương mại.
Trong lĩnh vực năng lượng, các nhóm sản phẩm tập trung vào giải quyết các yêu cầu hiện đại hóa hạ tầng điện và nhiên liệu xanh. Kết quả dự kiến đến năm 2030 trong lĩnh vực năng lượng bao gồm việc xây dựng nền tảng bản sao số dầu khí và hệ thống điện được kiểm thử tại hiện trường; phát triển hệ thống tích trữ năng lượng tích hợp (BESS) ở ít nhất 02 phân khúc; sản xuất lô thử nghiệm pin natri-ion; ứng dụng từ 03 đến 05 thiết bị điện cao áp, siêu cao áp từ 35 kV đến 500 kV tại các công trình đầu tiên; triển khai thí điểm các dự án hydrogen xanh, công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS), cũng như các giải pháp nâng cao thu hồi dầu (EOR/IOR) tại mỏ. Các đơn vị kinh tế lớn đóng vai trò dẫn dắt trong lĩnh vực này gồm Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem), Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex).
Trong lĩnh vực công nghiệp, các sản phẩm hướng tới việc tự chủ sản xuất và nâng cao hàm lượng công nghệ. Mục tiêu đến năm 2030 là triển khai từ 3-5 mô hình sản xuất thông minh; phát triển robot hai tay và robot di động tự hành (AMR) đạt mức độ sẵn sàng công nghệ TRL 7-8 tại ít nhất 02 hiện trường; sản xuất các loại thép đặc chủng, thép ray, phát triển chuỗi giá trị nhôm và chế biến sâu đất hiếm; đồng thời làm chủ từ 3-5 cấu phần phục vụ đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị. Các lực lượng doanh nghiệp dẫn dắt triển khai bao gồm Vinachem, VNSTEEL, Vinatex, Vingroup, THACO, Hòa Phát và Masan.
Trong lĩnh vực thương mại, các nhóm sản phẩm tập trung ứng dụng các nền tảng số và tự động hóa trong quản lý, lưu thông hàng hóa. Mục tiêu đến năm 2030 bao gồm việc giải quyết từ 3-5 bài toán trí tuệ nhân tạo (AI) trong logistics và chống gian lận thương mại; xây dựng 01 bản sao số cho hệ thống cảng, kho và hành lang logistics; triển khai truy xuất nguồn gốc cho 2-3 chuỗi hàng hóa chủ lực; và đưa đội robot di động tự hành vào thử nghiệm tại ít nhất 02 kho, cảng. Các đơn vị công nghệ và logistics chủ trì, phối hợp thực hiện gồm Viettel, VNPT, FPT, CMC, VIMC, Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn và Gemadept.
Về định hướng ưu tiên, các sản phẩm được phân loại theo mức độ sẵn sàng công nghệ và tiềm năng thị trường. Nhóm sản phẩm ưu tiên sớm có sản phẩm trong giai đoạn 2026-2027 sẽ tập trung đẩy mạnh thương mại hóa, thực hiện xác nhận sản phẩm và đưa vào cơ chế đặt hàng mua sắm. Đối với các sản phẩm thuộc nhóm có khoảng trống công nghệ lớn (TRL ≤ 6), phương thức thực hiện là tăng cường hợp tác, chuyển giao công nghệ có điều kiện và áp dụng cơ chế đặt hàng dài hạn. Những nhóm sản phẩm thuộc lĩnh vực có dư địa thị trường lớn sẽ được tập trung nội địa hóa nhằm tạo tác động tăng trưởng lan tỏa cho toàn ngành.
Phương hướng và mục tiêu triển khai thực hiện
Để thực hiện thành công Kế hoạch triển khai Quyết định 808/QĐ-TTg, Bộ Công Thương đã thiết lập bộ máy điều phối, phân công trách nhiệm và lộ trình tổ chức thực hiện cụ thể.
Về phân công trách nhiệm, 76 sản phẩm chi tiết được giao cho 08 Cục, Vụ thuộc Bộ làm đầu mối chủ trì. Cơ chế quản lý được vận hành theo nguyên tắc một đầu mối, hai tuyến trách nhiệm và ba cấp quyết định. Ba cấp quyết định gồm: Bộ trưởng quyết định các thẩm quyền theo quy định của pháp luật và ban hành phân cấp; Thứ trưởng phụ trách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo xử lý các vướng mắc liên đơn vị; Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số quản lý nhiệm vụ theo thẩm quyền phân cấp. Tuyến quản lý do Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số đảm nhận, thực hiện từ khâu tiếp nhận, trình phê duyệt, xét chọn, ký kết hợp đồng, đánh giá theo mốc, nghiệm thu và thực hiện thủ tục xác nhận sản phẩm công nghệ chiến lược. Tuyến chuyên môn do các Cục, Vụ chuyên ngành đảm nhiệm, chịu trách nhiệm xác định nhu cầu, xây dựng chỉ tiêu kỹ thuật, đánh giá các tiêu chí chuyên ngành và phối hợp tổ chức ứng dụng kết quả.
Cơ chế phối hợp quy định mỗi Cục, Vụ cử 01 lãnh đạo và 01 chuyên viên làm đầu mối. Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số làm Tổ trưởng tổ điều phối, tổ chức họp hằng quý. Thứ trưởng phụ trách chủ trì giao ban định kỳ 06 tháng một lần. Về chế độ báo cáo, các Cục, Vụ gửi báo cáo 06 tháng trước ngày 15/6; báo cáo năm của các đơn vị, Sở Công Thương và các tổ chức liên quan được gửi trước ngày 15/12 hằng năm.
Đối với công tác phát triển nhiệm vụ khoa học và công nghệ, quy trình triển khai gồm 07 bước từ khâu xác định nhu cầu, xây dựng bài toán đặt hàng, thẩm định, xét chọn, phê duyệt kinh phí, tổ chức thực hiện cho đến nghiệm thu, ứng dụng. Các tổ chức chủ trì phải đạt tối thiểu 70/100 điểm trong quá trình xét chọn; thời gian phê duyệt chủ trì và kinh phí không quá 60 ngày kể từ khi hết hạn nộp hồ sơ. Đối với 02 nhiệm vụ đầu tiên được tuyển chọn theo Quyết định số 2370/QĐ-BCT và Quyết định số 2371/QĐ-BCT, thời hạn nộp hồ sơ được xác định trước 17h00 ngày 14/10/2026 trên Hệ thống quản lý khoa học và công nghệ.
Về công tác xác nhận sản phẩm công nghệ chiến lược, quy trình tuân thủ 07 tiêu chí theo Thông tư số 40/2026/TT-BKHCN. Sản phẩm đạt yêu cầu phải đáp ứng các tiêu chí về nguồn gốc công nghệ, địa điểm nghiên cứu chế tạo tại Việt Nam, tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu 40%, đã lưu thông hoặc xuất khẩu, cùng các chứng minh về tính đột phá và lợi thế cạnh tranh quốc gia. Thời hạn giải quyết thủ tục là 40 ngày; Giấy xác nhận có hiệu lực trong 5 năm, chịu sự kiểm tra lần đầu sau 12 tháng và định kỳ 02 năm một lần. Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số bắt đầu tiếp nhận hồ sơ từ Quý IV/2026.
Nhằm tạo động lực triển khai, các cơ chế ưu đãi và hỗ trợ mạnh mẽ đã được ban hành. Nhà nước hỗ trợ tối đa 100% kinh phí thực hiện nhiệm vụ theo hình thức cấp và đánh giá theo mốc; hỗ trợ 100% lãi suất vay vốn (không quá 10%/năm, tối đa 05 năm); cho phép tính 200% chi phí R&D khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp; miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị phục vụ nghiên cứu; hỗ trợ 100% chi phí đào tạo và bảo hộ sở hữu trí tuệ. Đối với sản phẩm và doanh nghiệp công nghệ chiến lược, sản phẩm được ưu tiên mua sắm công, ưu đãi đấu thầu, hỗ trợ 100% chi phí thử nghiệm trong nước và 70% chi phí thử nghiệm ở nước ngoài. Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi 10% trong 15 năm, miễn thuế 04 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 09 năm tiếp theo.
Trọng tâm triển khai trong thời gian tới yêu cầu các Cục, Vụ hoàn thành việc cử đầu mối, tổ chức tiếp nhận hồ sơ 02 nhiệm vụ đầu tiên trước ngày 14/10/2026, đề xuất danh mục nhiệm vụ cho năm 2027 và công bố thủ tục xác nhận sản phẩm trong Quý IV/2026. Các doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và Sở Công Thương các địa phương chủ động chuẩn bị hồ sơ, kết nối nguồn lực và xây dựng các phương án triển khai nhằm đạt được các mục tiêu đề ra đến năm 2030.
