Tại thị trường Việt Nam, động thái mới nhất của Ngân hàng Nhà nước nhằm phản ứng trước chính sách mang tính thị trường cao hơn của Trung Quốc trong điều hành tỷ giá là ngày 19/8 tăng tỷ giá USD/VND thêm 1% và nâng biên độ tỷ giá từ +/-2% lên +/-3% đã có những tác động nhất định lên tâm lý thị trường.
Thời điểm “vàng” điều chỉnh tỷ giá của Trung Quốc
Khi Trung Quốc liên tiếp 3 lần thay đổi tỷ giá ấn định trong vòng 3 ngày, một mặt có thể được hiểu là phá giá đồng NDT, nhưng mặt khác có thể được hiểu là một biện pháp “lai” giữa chính sách điều hành tỷ giá cũ và mang tiệm cận hơn tới tính thị trường. Bên cạnh phần lớn đánh giá xem việc giảm tỷ giá của đồng NDT vừa qua là một đợt phá giá liên tiếp thì một số tổ chức quốc tế lại có đánh giá tích cực. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã đánh giá cao việc làm này và thúc giục Trung Quốc thả nổi tiền tệ trong 2-3 năm tới. Goldman Sachs cũng nhận định việc hạ giá đồng NDT sẽ giúp Trung Quốc linh hoạt hơn khi đối phó với đồng USD mạnh, trong bối cảnh Mỹ chuẩn bị tăng lãi suất.
Theo cơ chế điều hành tỷ giá mới, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc sẽ công bố giá mở cửa hàng ngày theo mức đóng cửa hôm trước và cung - cầu ngoại hối cũng như biến động các đồng tiền lớn. Tỷ giá NDT và USD tại các ngân hàng được phép biến động trong biên độ +/-2%. Như vậy, cách thức điều hành tỷ giá đã linh hoạt nhưng vẫn trong vòng kiểm soát và thị trường sẽ quen dần với việc tỷ giá của đồng NDT biến động hàng ngày.
Diễn biến tỷ giá VND/USD từ đầu năm 2015 đến nay
Các nhà phân tích quốc tế đã đánh giá động thái giảm tỷ giá đồng NDT so với đồng USD vừa qua của Trung Quốc là “một mũi tên trúng 2 đích”. Đích đầu tiên là linh hoạt theo yêu cầu tự do hóa tỷ giá. Đích thứ hai là giải quyết các rắc rối của nền kinh tế mà trọng tâm là thúc đẩy xuất khẩu vốn đang trong đà suy giảm mạnh.
Một trong những mục tiêu lớn của Trung Quốc là tăng ảnh hưởng cũng như vai trò của mình trong lĩnh vực thương mại toàn cầu. Trong đó có việc mong muốn được đưa vào rổ tiền tệ dự trữ trong Quyền rút vốn đặc biệt của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), đứng ngang hàng với USD, EUR, Yên Nhật và đồng Bảng Anh, chưa được chấp thuận do NDT chưa được tự do chuyển đổi. Trước đây, Trung Quốc cũng bị chỉ trích rất nhiều trong việc duy trì chính sách đồng nội tệ yếu để đưa hàng hóa ra khắp thế giới. Cơ chế cố định tỷ giá tạo điều kiện cho Ngân hàng Trung ương Trung Quốc áp đặt tỷ giá một cách có lợi nhất cho hàng hóa xuất khẩu và bị xem như một hình thức trợ giá trá hình. Cách thức này đã đem về cho Trung Quốc thặng dư thương mại và nguồn dự trữ ngoại hối khổng lồ. Phía ngược lại, các đối tác thương mại với Trung Quốc rơi vào cảnh thâm hụt thương mại rất lớn và gây sức ép để Trung Quốc thay đổi cơ chế tỷ giá.
Mặt khác, để hỗ trợ tăng trưởng và xuất khẩu trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế chậm lại, cách thuận tiện nhất của Trung Quốc là giảm giá đồng nội tệ. Trong điều kiện bình thường, động thái này chắc chắn sẽ gặp chỉ trích lớn từ quốc tế. Tuy nhiên, đây lại là thời điểm tỷ giá đồng NDT sụt giảm và cùng lúc Trung Quốc chuyển sang cơ chế tỷ giá ấn định linh hoạt hơn theo thị trường. Vì vậy, việc giảm tỷ giá ở ngay “thời điểm vàng” không bị đối diện với những công kích của các đối tác thương mại. Lý do hợp lý để bảo vệ hành động giảm giá đồng NDT là “theo thị trường”.
Các chuyên gia cho rằng, sẽ khó có chuyện cả hai mục đích cùng đạt được trong một thời gian dài. Nếu đồng NDT tăng giá trở lại, đó sẽ là phép thử đầu tiên trong việc kiên định chính sách và lựa chọn ưu tiên. Liệu Trung Quốc có kiên trì theo đuổi một tỷ giá thả nổi thực sự và chấp nhận thiệt hại cho xuất khẩu nói riêng và giảm động lực tăng trưởng? Ngược lại, duy trì một đồng nội tệ yếu cũng có nhiều tác hại, như kích thích lạm phát, tăng khối nợ nước ngoài của Chính phủ cũng như doanh nghiệp. Quan trọng hơn là nếu thả nổi tiền tệ, Trung Quốc sẽ phải từ bỏ công cụ điều hành vốn được duy trì từ năm 1994 đến gần đây.
Việt Nam: Chủ động tạo dư địa cho thị trường
Việc Ngân hàng Nhà nước tăng tỷ giá USD/VND thêm 1%và nâng biên độ từ +/-2% lên +/-3% vào thời điểm Trung Quốc vẫn đang ổn định tỷ giá là điều bất ngờ. Nếu như lần điều chỉnh tăng biên độ 1% đầu tiên mang tính ứng phó với 3 lần liên tiếp giảm giá đồng NDT thì lần điều chỉnh mạnh tay này dường như không phải là chạy theo, vì tỷ giá của đồng NDT chưa có thay đổi lớn.
Theo Ngân hàng Nhà nước, chính sách trên nhằm tiếp tục chủ động dẫn dắt thị trường, đón đầu các tác động bất lợi của khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ điều chỉnh tăng lãi suất. Việc điều chỉnh tỷ giá giúp đồng Việt Nam có dư địa đủ lớn để linh hoạt trước các diễn biến bất lợi trên thị trường quốc tế và trong nước không chỉ từ nay đến cuối năm mà cả những tháng đầu năm 2016, tạo sự ổn định vững chắc cho thị trường ngoại tệ và đảm bảo khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam”.
Cùng những lý giải trên, Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ thực hiện đồng bộ các biện pháp và công cụ chính sách tiền tệ, sẵn sàng bán ngoại tệ khi cần thiết để ổn định thị trường ngoại tệ và tỷ giá trong biên độ cho phép. Từ sau khi Trung Quốc liên tiếp giảm giá trị đồng NDT và Việt Nam cũng giảm giá đồng VND, thị trường ngoại tệ bắt đầu hình thành lối suy nghĩ Việt Nam đang bị kéo vào một cuộc chiến phá giá đồng nội tệ để tự vệ trước các biến động bên ngoài. Điều này hàm ý rằng cứ mỗi khi tỷ giá đồng NDT biến động là Việt Nam cũng sẽ thay đổi tỷ giá.
Trước những biến động của thị trường đã hình thành một xu hướng mua và găm giữ ngoại tệ trong những ngày qua vì cho rằng tỷ giá sẽ còn biến động lớn. Làm cách nào để xóa tan kỳ vọng này? Cách tốt nhất là để thị trường tự quyết định trong một biên độ dao động rộng hơn và điều chỉnh trước để chủ động nếu như tỷ giá đồng NDT lại có sự thay đổi.
Bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Quốc gia của Ngân hàng thế giới Việt Nam cũng đánh giá cao cách thức điều hành chủ động này: “cho phép các yếu tố thị trường có vai trò quan trọng hơn trong việc xác định tỷ giá thông qua việc mở rộng biên độ tỷ giá, đồng thời góp phần ổn định thị trường tài chính. Chúng tôi cho rằng đây là bước đi đúng hướng và chủ động của Ngân hàng Nhà nước sau khi đánh giá các yếu tố bên ngoài và thậm chí đã tính đến các tình huống có thể xảy ra trong thời gian tới như việc Fed rút gói nới lỏng định lượng. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước đã chuẩn bị cho cơ chế tỷ giá sẵn sàng ứng phó theo hướng linh hoạt hơn”.
Việc điều chỉnh mạnh ngày 19/8 đã phát đi một thông điệp rằng thị trường đã có đủ dư địa cho các biến động tiếp theo và điều đó đồng nghĩa rằng sẽ khó có điều chỉnh thêm nữa một khi liều lượng đã đủ. Điều này là cần thiết vì không thể nào dự đoán được chính xác chính sách tỷ giá của Trung Quốc. Thay vì công bố các mức tỷ giá cố định, hiện Trung Quốc cũng đã mang tính thị trường nhiều hơn vào tỷ giá, bằng việc tham chiếu vào giá giao dịch trên thị trường để ấn định tỷ giá mới. Do có tính thị trường cao nên tỷ giá có thể sẽ thay đổi hàng ngày. Nếu Việt Nam cũng chọn cách cố định tỷ giá cứng nhắc thì không có cách nào khác là lại phải bị động thay đổi. Với một biên độ dao động rộng hơn, thị trường có thể tự điều chỉnh trong vùng giới hạn mà không cần can thiệp tức thời bằng cách điều chỉnh tỷ giá tham chiếu trung tâm như trước.
Theo đánh giá của các chuyên gia, mặc dù trên lý thuyết việc giảm giá đồng nội tệ là để hỗ trợ xuất khẩu và giúp bảo vệ thị trường trong nước thông qua việc tăng giá của hàng nhập khẩu. Tuy nhiên, thực tế, việc điều chỉnh chính sách tỷ giá chỉ có tác động hỗ trợ với các giao dịch ngắn hạn, chỉ mang tính tức thời. Phần còn lại mang tính dài hơi vẫn là sự chủ động và sẵn sàng ứng phó của doanh nghiệp trước các biến động thường nhật của thị trường.
