Các doanh nghiệp trong các ngành: Nhựa, Chế biến và Xuất khẩu thủy sản, Dệt may, Da giầy, Rau quả, Cao su và một số doanh nghiệp khác… đều bức xúc phản ánh việc đánh thuế vào túi và bao bì nhựa đã làm ảnh hưởng đến các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu, cũng như doanh nghiệp sản xuất trong nước có sử dụng bao bì nhựa.
Theo ý kiến của các doanh nghiệp, Luật ban hành chưa sát và đúng với tình hình thực tế.
Trong quy định của Luật thuế môi trường và Nghị định 67 CP chỉ áp dụng đánh thuế đối với túi, bao bì nhựa phục vụ cho hàng xuất khẩu, còn đối với các sản phẩm túi, bao bì xuất khẩu thì được miễn thuế; các loại túi, bao bì đi kèm sản phẩm nhập khẩu cũng không bị áp dụng mức thuế nào. Đây là bất cập mà theo các doanh nghiệp cần được sớm nghiên cứu sửa đổi để tạo sự cạnh tranh bình đẳng cho các sản phẩm do các doanh nghiệp trong nước sản xuất. Với việc đánh thuế này, vô hình chung đã tạo áp lực cho các doanh nghiệp nội địa, đặc biệt là đối với những doanh nghiệp đang tập trung phát triển xuất khẩu như Dệt may, Da giầy, Rau quả… phải tăng chi phí sản xuất, làm cho giá thành sản phẩm đội lên, làm giảm sự cạnh tranh của doanh nghiệp.
Bất cập thứ hai được đưa ra đó là những quy định tiêu chuẩn túi ni lông thuộc diện chịu thuế và không thuộc diện chịu thuế. Theo đó thì một trong những căn cứ để cơ quan thuế xác định các sản phẩm túi nhựa thuộc diện chịu thuế là tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm. Tuy nhiên, hiện nay trong các quy định của Luật và Nghị định chưa chỉ định cơ quan có trách nhiệm công bố tiêu chuẩn của túi, bao bì chịu thuế (gồm những quy định về nguyên liệu, độ mỏng, túi đóng gói sẵn..). Trong khi đó, được biết Bộ Tài nguyên và Môi trường còn đang trong giai đoạn nghiên cứu xây dựng hướng dẫn túi ni lông đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường. Cho đến nay, cũng chưa có hướng dẫn về phương pháp kiểm tra, đơn vị kiểm tra, chứng nhận (nếu có) sản phẩm nào thuộc diện chịu thuế, sản phẩm nào không thuộc diện chịu thuế (về độ dày, độ mỏng, thành phần nguyên liệu, đơn lớp, đơn nguyên liệu, bao bì đóng gói sẵn hàng hóa, túi ni lông đáp ứng tiêu chí thân thiện môi trường,...). Do đó, nếu chưa xây dựng được những tiêu chuẩn cụ thể cho túi, bao bì nhựa nào phải chịu thuế sẽ dẫn đến sự “mập mờ” khi đánh thuế và gây cản trở cho doanh nghiệp.
Trước những phản hồi của các doanh nghiệp, Bộ Công Thương đã có công văn số 1315/BCT-CNN ngày 23 tháng 02 năm 2012 và công văn số 1587/BCT-XNK ngày 01 tháng 3 năm 2012 gửi Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường đề xuất một số kiến nghị trong việc thực hiện Luật Thuế BVMT.
Tiếp đến ngày 08 tháng 3 năm 2012, Bộ Công Thương đã tổ chức cuộc họp do Thứ trưởng Nguyễn Thành Biên chủ trì có đại diện Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng Cục Thuế, Tổng cục Hải quan, các Hiệp hội ngành hàng và một số doanh nghiệp nhằm bàn giải pháp để giải quyết những khó khăn trong quá trình thực hiện Luật thuế BVMT.
Hiện, các Vụ chuyên ngành của Bộ Công Thương đang phối hợp rà soát lại các quy định như Luật, Nghị định, Thông tư hướng dẫn, liên quan đến thuế bảo vệ môi trường của túi, bao bì nhựa PE để tìm giải pháp và đề xuất các hướng giải quyết. Theo đó các đề xuất tập trung vào một số vấn đề cốt yếu sau:
1. Điều chỉnh bổ sung một số điều của Luật, Nghị định, Thông tư của Luật thuế bảo vệ môi trường.
Về điều chỉnh bổ sung Luật: Bổ sung quy định thuế đối với bao bì nhập khẩu theo hàng hoá và quy định hoàn thuế đối với bao bì phục vụ cho hàng xuất khẩu; Bổ sung quy định giao cho Bộ Công Thương hoặc Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành quy định về tiêu chuẩn sản phẩm chịu thuế để cơ quan tài chính làm căn cứ tính thuế.
Về điều chỉnh Nghị định: Trên cơ sở điều chỉnh Luật tiến hành điều chỉnh, bổ sung những quy định trong nghị định hướng dẫn thi hành Luật; Bổ sung quy định về lộ trình thực hiện (về mức thuế và thời gian áp dụng) nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất điều chỉnh kế hoạch, đổi mới thiết bị để chuyên đổi sản phẩm của mình.
Về điều chỉnh hướng dẫn của các Bộ ngành: Bộ Khoa học và Công nghệ hoặc Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc Bộ Công Thương ban hành quy định tiêu chuẩn kỹ thuật đối với sản phẩm chịu thuế; Bộ Tài chính điều chỉnh, bổ sung Thông tư hướng dẫn thu thuế đối với túi, bao bì chịu thuế.
2. Trong khí chờ điều chỉnh, bổ sung quy định của Nhà nước thì đề nghị Bộ Tài chính hướng dẫn cho phép các doanh nghiệp tự công bố và đăng ký sản phẩm chịu thuế với cơ quan thuế và chịu trách nhiệm với công bố của mình.
Luật Thuế Bảo vệ môi trường số 57/2010/QH12 quy định: Túi ni lông thuộc diện chịu thuế là loại túi, bao bì được làm từ màng nhựa đơn polyetylen, tên kỹ thuật là túi nhựa xốp.
Nghị định 67/2011/NĐ-CP quy định: Túi ni lông thuộc diện chịu thuế (túi nhựa) là loại túi, bao bì nhựa mỏng làm từ màng nhựa đơn HDPE (high density polyethylene resin), LDPE (Low density polyethylen) hoặc LLDPE (Linear low density polyethylen resin), trừ bao bì đóng gói sẵn hàng hóa và túi ni lông đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Tuy nhiên, do sản phẩm túi, bao bì nhựa rất nhiều loại như túi nhựa PE, PVC, BOPP..., vì vậy, để các cơ quan thuế (thuế nội địa, thuế hải quan) phân biệt được loại túi, bao bì nào là đối tượng chịu thuế là rất khó khăn.
