PV:
Hoạt động hợp tác quốc tế có vai trò quan trọng như thế nào đối với ngành Công Thương, thưa ông?
Ông Lê Hữu Phúc: Việt Nam đang trong giai đoạn tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá với mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020; đồng thời, trong bối cảnh xu thế toàn cầu hoá đang phát triển và có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các nền kinh tế trên thế giới, Chính phủ Việt Nam thực hiện chủ trương “mở rộng, đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại”, “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới”. Vì vậy, việc bắt kịp các xu thế thời đại, chủ động và đẩy nhanh tiến trình hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế có vai trò đặc biệt quan trọng và mang lại nhiều cơ hội cho việc phát triển ngành Công Thương VN.
Việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế đã mở ra cho ngành Công Thương VN nhiều cơ hội mới. Thông qua việc tham gia vào khu vực mậu dịch tự do, các doanh nghiệp công nghiệp VN có điều kiện tiếp cận với các thị trường năng động nhất thế giới. Thông qua các Hiệp định về khu vực mậu dịch tự do ASEAN, khu vực mậu dịch tự do giữa ASEAN và các nước Đông Bắc Á, Trung Quốc, Úc, New Zealand, đặc biệt là các nước phát triển khác… đã và sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp ngành Công Thương tiếp cận và mở rộng thị trường xuất khẩu các sản phẩm của mình.
Thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đầu tư, các doanh nghiệp trong ngành công thương của Việt Nam cũng có cơ hội tiếp cận với thị trường vốn quốc tế như thu hút vốn ODA, FDI…Có thể nói rằng trong giai đoạn vừa qua, hầu hết các dự án trọng điểm nhà nước trong ngành công thương đều có dấu ấn của các hoạt động hợp tác quốc tế. tạo cơ hội cho ngành Công Thương nước ta tiếp cận các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và các nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức. Đặc biệt, trong lĩnh vực năng lượng, nhờ có sự hỗ trợ bởi các khoản vốn và những kinh nghiệm phát triển quý báu từ nguồn ODA, ngành Năng lượng VN đã triển khai thực hiện được các dự án xây dựng các nhà máy thủy điện, nhiệt điện, góp phần phát triển kinh tế, xã hội bền vững.
Các hoạt động hợp tác quốc tế với các doanh nghiệp nước ngoài đã giúp các doanh nghiệp Việt Nam trong ngành công thương làm quen, tiếp cận và ứng dụng các kỹ thuật hiện đại, công nghệ cao. Nhờ đó, các doanh nghiệp của ta có thể nâng cao năng suất, tiết kiệm chi phí về nhân công, rút ngắn chu kỳ sản xuất của sản phẩm, đồng thời cho ra được những sản phẩm đáp ứng được những yêu cầu khắt khe về chất lượng và mẫu mã của các nước nhập khẩu. Có thể thấy rằng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực của ngành công thương, đã thúc đẩy quá trình chuyển giao kỹ thuật và công nghệ, góp phần nâng cao tính cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp Việt Nam.
Mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế cũng mang lại cơ hội nâng cao tay nghề cho người lao động VN. Đối với những người đóng vai trò điều hành quản lý trong ngành Công Thương, quá trình hợp tác quốc tế còn mở ra cơ hội để trau dồi và nâng cao kinh nghiệm quản lý nói chung và quản trị doanh nghiệp nói riêng.
PV:
Những kết quả nổi bật của hoạt động hợp tác quốc tế đối với lĩnh vực công nghiệp và thương mại trong những năm vừa qua đặc biệt là năm 2010?
Ông Lê Hữu Phúc: Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang diễn ra nhanh chóng và trở thành một xu thế cơ bản không thể đảo ngược của kinh tế thế giới đương đại. Trong những năm qua, việc triển khai tốt các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế mang lại cho ngành Công Thương nhiều cơ hội để phát triển.
Việc các Hiệp định kinh tế, thương mại song phương đã từng bước đi vào thực thi một cách toàn diện và đầy đủ, đã tạo ra cơ hội và điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp ngành công thương khai thác để đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu, nhất là việc giảm thuế, áp dụng xuất xứ hàng hóa... Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2010 đạt khoảng 71,6 tỷ USD, tăng 25,5% so với năm 2009 và tăng 18% so với kế hoạch (kế hoạch là 60,54 tỷ USD). Các thị trường xuất khẩu truyền thống được giữ vững và tiếp tục phát triển, thị trường châu Phi, Trung Nam Á, Tây Á được mở rộng. Bộ Công Thương còn phối hợp chặt chẽ với các Bộ/ngành trong việc vận động, thu hút ODA, FDI vào các lĩnh vực công nghiệp, thương mại, trong việc xúc tiến vận động các đối tác nước ngoài vào đầu tư tại VN cũng như định hướng cho các doanh nghiệp VN đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng, khoáng sản, công nghiệp nặng, sản xuất chế biến dầu khí, cơ khí chế tạo, chế biến và công nghệ cao...
Đặc biệt, năm 2010, Việt Nam trên cương vị là Chủ tịch ASEAN, Bộ Công Thương đã phối hợp với các cơ quan hữu quan chuẩn bị nội dung làm việc cũng như công tác hậu cần phục vụ Hội nghị Chủ tịch cộng đồng ASEAN lần thứ 4; Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế AEM lần thứ 42; Hội nghị Bộ trưởng Năng lượng ASEAN lần thứ 28 và một số Hội nghị bên lề thành công tốt đẹp. Chúng ta cũng đã thực hiện sáng kiến tổ chức Diễn đàn doanh nghiệp về Lộ trình ưu tiên hội nhập trong Lĩnh vực Logistics của ASEAN và Đối thoại giữa Bộ trưởng Kinh tế ASEAN với khu vực tư nhân về dịch vụ logistics trong khu vực bên lề Hội nghị AEM-42, được các nước đánh giá cao... Có thể nói các hoạt động đối ngoại trong năm 2010 với cương vị là Chủ tịch ASEAN của ngành công thương đã tạo ra một vị thế mới của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.
Cũng trong năm 2010, với xu thế mở rộng hợp tác quốc tế đã đánh dấu một bước trưởng thành của một số doanh nghiệp trong ngành công thương Việt Nam trong lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài. Một số doanh nghiệp trong lĩnh vực dầu khí, khai mỏ, sản xuất bóng đèn,.. đã có hoạt động đầu tư, sản xuất trong khu vực (tại Lào, Campuchia...), cũng như tại một số nước khu vực Nam Mỹ (tại Vê-nê-xu-êla...), bước đầu thu được những kết quả đáng ghi nhận, khẳng định được vị thế mới của VN trên trường quốc tế.
PV:
Hiện nay, có rất nhiều doanh nghiệp tăng cường hợp tác quốc tế để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đóng góp vào sự tăng trưởng chung của Ngành, vậy trong những năm tới, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải làm thế nào để hoạt động hợp tác quốc tế đem lại hiệu quả?
Ông Lê Hữu Phúc: Để có thể tham gia một cách chủ động, tích cực vào quá trình hội nhập, hợp tác kinh tế quốc tế, từng doanh nghiệp của ngành Công Thương cần:
Xây dựng kế hoạch cụ thể hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình, chủ động xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu tiếp cận thị trường vốn quốc tế cũng như thị trường công nghệ thế giới của thời kỳ hội nhập. Các doanh nghiệp cần trước hết đẩy mạnh sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành; tăng cường hoạt động nghiên cứu, triển khai (R&D); đẩy mạnh ứng dụng và đổi mới khoa học công nghệ; nhận biết khả năng và triển khai chiếm lĩnh các khâu quan trọng trong chuỗi giá trị của ngành trên thị trường thế giới, đặc biệt là những công đoạn trong chuỗi sản xuất có giá trị gia tăng cao như thiết kế mẫu, chế tạo.... Có như vậy các doanh nghiệp trong ngành công thương Việt Nam mới có thể tạo dựng thế và lực, chủ động tham gia thị trường vốn, thị trường công nghệ cũng như thị trường sản phẩm của thế giới, chủ động tham gia quá trình hội nhập kinh tế quốc tế theo định hướng của Đảng và nhà nước.
Các doanh nghiệp công thương Việt Nam cũng phải đầu tư, nghiên cứu để nhận thức và tranh thủ những cơ hội tiếp cận thị trường đem lại từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.Ngoài các khu vực mậu dịch tự do mà Việt Nam đã tham gia trong thời gian trước đây, hiện nay, Việt Nam còn đang tham gia đàm phán TPP với những mức độ cam kết cao, liên quan đến nhiều ngành lĩnh vực. Tự nhận biết cơ hội và thách thức cũng là một trong những yếu tố hết sức quan trọng đảm bảo thành công trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp công thương Việt Nam cũng từng bước cần tạo lập các thương hiệu mạnh có đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, tích cực đổi mới công nghệ sản xuất, kinh doanh, nhằm nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường; Mở rộng mạng lưới gồm nhiều doanh nghiệp hợp tác với nhiều tổ chức nghiên cứu và các tổ chức thương mại, tài chính; Thành lập các hiệp hội ngành nghề có khả năng bảo vệ, tạo điều kiện chia sẻ bí quyết, công nghệ; Phát triển các chương trình liên kết phục vụ cho đổi mới công nghệ theo mô hình Tam giác liên kết “Doanh nghiệp - Nhà nước - Cơ sở nghiên cứu khoa học”; Đồng thời, cần xây dựng các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp trong việc thay đổi phương pháp và nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp và đạo đức kinh doanh, trong đó đặc biệt chú trọng đến nguyên tắc "công bằng và minh bạch" để phù hợp với chuẩn mực và tập quán kinh doanh quốc tế.
Về phần mình, Bộ Công Thương vẫn có các Chương trình với các hoạt động động hỗ trợ các doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực. Vì vậy, các doanh nghiệp cũng cần phối hợp với các đơn vị chức năng của Bộ và các đơn vị bên ngoài khác nhằm tích cực tìm kiếm cơ hội hợp tác với các doanh nghiệp ngoài nước, thực hiện các chương trình xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại trong nước và ngoài nước một cách có hiệu quả.
PV:
Vụ có đề xuất, kiến gì để khắc phục những bất cập về cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện, nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động hợp tác của tế của Bộ Công Thương đáp ứng với yêu cầu của thời kỳ hội nhập?
Ông Lê Hữu Phúc: Để đạt được mục tiêu hội nhập thành công vào nền kinh tế thế giới nói chung và triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế cụ thể, ngành Công Thương cần nhận thức rõ và tận dụng được hết các cơ hội do quá trình hội nhập, hợp tác kinh tế quốc tế đem lại; Tăng cường, hoàn thiện sự phối hợp giữa các tổ chức, cơ quan trong lĩnh vực hội nhập, hợp tác quốc tế, đặc biệt là phối hợp giữa trung ương và địa phương.
Chủ động trong việc quyết định tham gia đàm phán các FTA trên cơ sở xây dựng một chiến lược tham gia FTA thống nhất, thực hiện chủ trương chủ động hội nhập, hợp tác kinh tế quốc tế trên tất cả các bình diện song phương, khu vực và đa phương; Từng bước nâng cao vị thế và vai trò của Việt Nam tại Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), trong ASEAN, cũng như trong các ủy ban liên chính phủ. Đồng thời, tích cực tham gia các khuôn khổ hợp tác như APEC - ASEM; tăng cường tận dụng các cơ hội do APEC - ASEM mang lại để nâng cao năng lực và giải quyết các vấn đề kinh tế - thương mại song phương, khu vực; Chủ động xây dựng chiến lược và bước đi phù hợp để nâng tầm quan hệ thương mại với các quốc gia và vùng lãnh thổ trọng điểm trong các hợp tác song phương.
Bên cạnh đó Bộ Công Thương cũng cần rà soát hoàn hoàn thiện tổ chức các cơ quan quản lý các hoạt động hợp tác quốc tế, nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả các công tác hợp tác quốc tế, đáp ưng yêu cầu hội nhập trong tình hình mới.
PV:
Xin cảm ơn ông!