Thiệt hại đã rõ ràng
Khi Tổng công ty Công nghiệp Dầu thực vật Việt Nam, đại diện bên nguyên đơn yêu cầu Cục Quản lý Cạnh tranh áp dụng biện pháp tự vệ nhập khẩu đối với dầu thực vật, thì cả bên bị, gồm Công ty CP VinaCommodities, Công ty Dầu thực vật Tường An và Công ty CP Acecook Việt Nam đều không phủ nhận ngành sản xuất dầu thực vật trong nước đã bị “thiệt hại nghiêm trọng” - một trong hai điều kiện để có thể áp dụng biện pháp tự vệ nhập khẩu theo Hiệp định tự vệ (SG Agreement) của WTO.
Theo điều tra của Cục Quản lý Cạnh tranh, sự thiệt hại nghiêm trọng đối với dầu thực vật sản xuất trong nước khá rõ ràng và toàn diện trên cả 9 mặt:
- Thị phần: Trong giai đoạn từ 2009 - 2012, thị phần của ngành sản xuất trong nước suy giảm từ 37% xuống còn 22%.
- Sản lượng: Năm 2012, giảm khoảng 30% so với 2011 và là mức thấp nhất trong giai đoạn 2009 - 2012.
- Công suất: Giảm một cách đáng kể, từ 76% năm 2011 xuống còn 56% năm 2012.
- Doanh thu: Trong giai đoạn 2009 - 2011, doanh thu ngành sản xuất trong nước đã có sự tăng trưởng đều. Tuy nhiên, năm 2012 doanh thu đột ngột suy giảm lớn, giảm 32% so với năm 2011.
- Lợi nhuận: Tương ứng với xu hướng giảm doanh thu, lợi nhuận đột ngột giảm mạnh trong năm 2012, giảm 35% so với năm 2011, thậm chí thấp nhất trong giai đoạn 2009 - 2012.
- Giá bán: Việc giá bán hàng hóa nhập khẩu giảm 15% đã khiến các nhà sản xuất trong nước buộc phải hạ giá bán xuống 9% trong năm 2012.
- Đầu tư: Trong giai đoạn 2009 - 2012, đầu tư của ngành sản xuất trong nước có sự suy giảm, thể hiện rõ rệt trong hai năm 2011 và 2012. Cụ thể, năm 2011 đầu tư của toàn ngành giảm gần 20% so với 2010 và năm 2012 tiếp tục giảm thêm 3% so với năm 2011.
- Nhân công: Mặc dù trong giai đoạn từ 2009 - 2010, lực lượng lao động sản xuất trực tiếp trong ngành đang duy trì ở mức ổn định thì kể từ năm 2011, lượng lao động đột ngột giảm 28%, và tiếp tục giảm 19% năm 2012.
- Hàng tồn kho: Năm 2012, lượng hàng tồn kho có sự gia tăng đột biến, khoảng 33% và đạt mức cao nhất trong giai đoạn 2009 - 2012 và chiếm 5% tổng lượng sản xuất.
Với 9 nội dung nêu trên, nếu chậm áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời sẽ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước và khó có thể khắc phục được
Hiệp định về Tự vệ (tiếng Anh: Agreement on Safeguards) là một trong những hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), được ký kết tại Vòng đàm phán Uruguay; cho phép thành viên WTO áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu khi sự tăng đột biến của nhập khẩu một mặt hàng gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước.Tâm điểm của vụ việc
Tuy nhiên, một điều kiện nữa để một quốc gia có thể áp dụng biện pháp tự vệ nhập khẩu là phải chứng minh được sự “thiệt hại nghiêm trọng” đó phải do “hậu quả của việc tăng nhập khẩu đột biến”. Đây là tâm điểm của vụ việc mà bên nguyên và bên bị có ý kiến khác nhau. Công ty VinaCommodities cho rằng sự thiệt hại của ngành sản xuất dầu thực vật trong nước là do suy thoái của nền kinh tế. Hiệp hội Dầu thực vật Indonesia (GIMNI) và Cục Ngoại thương Thái Lan (DFT) cũng đưa ra ý kiến phản biện, đề nghị Việt Nam làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa sự gia tăng hàng hóa nhập khẩu và thiệt hại nghiêm trọng của ngành sản xuất trong nước.
Cơ quan điều tra nước ta (Cục Quản lý cạnh tranh) đã sử dụng số liệu của Tổng cục Hải quan giai đoạn 2009 - 2012 để làm rõ vấn đề này. Theo đó, năm 2009, lượng nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng điều tra là 269 nghìn tấn. Năm 2010 tăng 16,71% đạt 314 nghìn tấn. Năm 2011 tăng 75 nghìn tấn so với năm 2010, tăng 23,95%. Năm 2012 tăng hơn 178 nghìn tấn lên 568 nghìn tấn, tăng 45,83%.
Số liệu của Tổng cục Hải quan cũng cho thấy, lượng nhập khẩu có sự gia tăng tương đối so với sản xuất trong nước trong giai đoạn 2009 - 2012. Năm 2010, lượng nhập khẩu tăng 16,71% so với năm 2009, trong khi lượng bán hàng nội địa của hàng hóa sản xuất trong nước lại giảm 2,11%. Như vậy, so với mức tăng trưởng của bán hàng nội địa, lượng nhập khẩu có mức tăng tương đối là 18,82%. Trong năm 2011 là lượng nhập khẩu tăng 23,95% so với năm trước đó, và lượng bán hàng nội địa cũng tăng 15,25%; nên lượng nhập khẩu tăng tương đối là 8,70%. Đến năm 2012, lượng nhập khẩu tăng mạnh 45,83% so với năm 2011, lượng bán hàng nội địa giảm 11,78%; làm cho lượng nhập khẩu tăng tương đối là 57,61%. Xét trên giá trị kim ngạch nhập khẩu cũng có sự tăng đột biến, trong 3 năm đã tăng gần gấp 3 lần, từ 202 triệu USD năm 2009 lên gần 600 triệu USD năm 2012.
Như vậy, xét trên cả lượng nhập khẩu tuyệt đối, tương đối và giá trị kim ngạch đã cho thấy rõ mối quan hệ nhân quả giữa “sự gia tăng nhập khẩu đột biến” đối với “sự thiệt hại nghiêm trọng” của ngành sản xuất trong nước. Và do đó, có đủ cơ sở để áp dụng biện pháp tự vệ nhập khẩu theo Pháp lệnh số 42/2002/PL-UBTVQH, Nghị định số 150/2003/NĐ-CP về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam cũng như Hiệp định về Tự vệ của WTO.
Việc điều tra xác định gia tăng nhập khẩu hàng hoá gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước dựa trên các yếu tố sau:
1. Tỷ lệ và mức tăng đột biến nhập khẩu tuyệt đối hay tương đối của hàng hoá thuộc đối tượng điều tra so với sản xuất hàng hoá tương tự hay hàng hoá cạnh tranh trực tiếp của ngành sản xuất trong nước;
2. Tác động của việc gia tăng nhập khẩu của hàng hoá thuộc đối tượng điều tra đến thị phần trong nước;
3. Mức giá của hàng hoá thuộc đối tượng điều tra so với giá của hàng hoá tương tự hay hàng hoá cạnh tranh trực tiếp của ngành sản xuất trong nước;
4. Tác động của việc gia tăng nhập khẩu hàng hoá thuộc đối tượng điều tra đến ngành sản xuất trong nước thông qua các yếu tố, như: sản lượng, hệ số sử dụng công suất sản xuất, mức tiêu thụ, thị phần, mức giá, năng suất lao động, mức lãi hoặc lỗ, tỷ lệ người có công ăn việc làm, thu nhập và các yếu tố khác gây ra hoặc có nguy cơ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước;
5. Mức tồn kho, tiềm năng, khả năng xuất khẩu thực tế, khả năng gia tăng xuất khẩu loại hàng hoá thuộc đối tượng điều tra của một nước hay các nước xuất khẩu;
6. Các yếu tố liên quan khác cần thiết cho việc điều tra.
(Điều 8, Nghị định 150/2003/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam).
