Hiện nay, nhu cầu đào tạo nhân lực cho các chuyên ngành TN&MT để bổ sung lực lượng công chức, viên chức đang công tác tại các đơn vị quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp giai đoạn 2012 - 2015 là khoảng 45.000 người. Giai đoạn từ 2016 đến 2020, với sự phát triển khoa học công nghệ ngành TN&MT, nhu cầu nhân lực này sẽ giảm xuống khoảng 20% đến 25% so với giai đoạn 2012-2015, trong đó tăng cường cho một số lĩnh vực như đất đai, tài nguyên nước, khí tượng thuỷ văn, đo đạc và bản đồ, địa chất khoáng sản và một số chuyên ngành mới; tập trung nhân lực có trình độ cao, tăng tỉ lệ có trình độ đại học trở lên từ mức 70% lên đến 90%.
Nhu cầu đối với đội ngũ viên chức, người lao động được đào tạo chuyên môn về TN&MT tại khu vực doanh nghiệp trong giai đoạn 2012-2015 là khoảng 30.000 người, trong đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ kỹ thuật chuyên nghiệp, hiện đại đáp ứng yêu cầu phát triển ngành TN&MT. Tỷ lệ thay thế và bổ sung này sẽ duy trì cho giai đoạn 2012 - 2020.
Đối với nhu cầu nhân lực quản lý nhà nước ngành TN&MT theo từng lĩnh vực từ nay đến năm 2020 thì, ở lĩnh vực đất đai cần tuyển mới khoảng 8.000 người, chủ yếu thay thế cho đội ngũ cán bộ nghỉ hưu; Lĩnh vực môi trường cần thay thế và tuyển mới khoảng 10.000 người phục vụ công tác quản lý nhà nước; Lĩnh vực khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu cần tuyển khoảng 600 đến 1.000 người chủ yếu để bổ sung, thay thế đội ngũ cán bộ nghỉ hưu; Lĩnh vực địa chất khoáng sản cần tuyển mới khoảng 3.000 người; Lĩnh vực tài nguyên nước cần tuyển khoảng 3.000 người làm công tác điều tra và quản lý các công trình thủy lợi; Lĩnh vực đo đạc và bản đồ cần tuyển khoảng 3.000 người; Lĩnh vực biển và hải đảo cần tuyển khoảng 20.000 người.
Trước nhu cầu cấp bách cần phải đào tạo, bổ sung nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu về số lượng, bảo đảm về chất lượng, cơ cấu ngành nghề hợp lý, Quy hoạch Phát triển nhân lực ngành TN&MT đã xây dựng lộ trình đào tạo trong hai giai đoạn: Giai đoạn 1 từ 2012 - 2015, giai đoạn 2 từ 2016 - 2020.
Theo đó trong giai đoạn 1, về đào tạo cán bộ, công chức, viên chức ngành TN&MT sẽ đào tạo từ 100 đến 120 tiến sỹ, ưu tiên đối với các lĩnh vực đất đai, khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu, địa chất và khoáng sản, tài nguyên nước, đo đạc và bản đồ, biển và hải đảo, kinh tế ngành TN&MT; Đào tạo từ 500 đến 700 thạc sỹ trong các chuyên ngành về quản lý kinh tế, chuyên ngành về TN&MT; Đào tạo mới, đào tạo chuyển đổi và đào tạo nâng cao từ 3.000 đến 4.000 cán bộ có trình độ đại học các chuyên ngành về TN&MT; Đào tạo, bồi dưỡng hàng năm từ 5.000 đến 7.000 lượt cán bộ, công chức, viên chức cấp trung ương, trong đó có từ 2.000 đến 3.500 lượt cán bộ, công chức, viên chức được tiếp cận các kiến thức và công nghệ tiên tiến của thế giới về TN&MT. Tiếp đó, đào tạo, bồi dưỡng hàng năm từ 6.000 đến 10.000 lượt cán bộ, công chức, viên chức cấp tỉnh; từ 10.000 đến 15.000 lượt cán bộ, công chức, viên chức cấp huyện và cấp xã; trong đó, từ 1.000 đến 1.500 lượt cán bộ, công chức, viên chức cấp tỉnh, cấp huyện được tiếp cận các kiến thức và công nghệ tiên tiến của thế giới về TN&MT.
Để đáp ứng nhu cầu đào tạo trên, trong giai đoạn này sẽ tập trung Xây dựng và phát triển Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh đạt chuẩn quốc gia; xây dựng Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường miền Trung đủ các điều kiện để tăng cường và nâng cao chất lượng đào tạo; xây dựng các viện thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đủ điều kiện đào tạo trình độ tiến sỹ cho các chuyên ngành về TN&MT. Bên cạnh đó, xây dựng, hoàn thiện chương trình, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng; phát triển đội ngũ giảng viên theo hướng chuẩn hóa và tiếp cận với trình độ của khu vực và thế giới; đổi mới cơ bản và đáp ứng về cơ sở vật chất đối với các cơ sở đào tạo về TN&MT.
Giai đoạn hai từ 2016 - 2020, tiếp tục tăng cường và mở rộng đào tạo đại học, sau đại học các chuyên ngành về TN&MT, trong đó lưu ý các chuyên ngành về quản lý, kinh tế ngành TN&MT, số lượng khoảng 100 đến 150 cán bộ trình độ tiến sỹ; 700 đến 800 cán bộ trình độ thạc sỹ; đào tạo mới và đào tạo nâng cao khoảng 1.500 đến 2.000 cán bộ trình độ đại học.
Đào tạo, bồi dưỡng hàng năm từ 6.000 đến 8.000 lượt cán bộ, công chức, viên chức cấp trung ương; từ 7.000 đến 10.000 lượt cán bộ, công chức, viên chức cấp tỉnh và từ 15.000 đến 20.000 lượt cán bộ, công chức, viên chức cấp huyện và cấp xã về chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức và công nghệ tiên tiến của thế giới về TN&MT.
Tiếp tục xây dựng và phát triển Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh nằm trong số 60 trường đại học hàng đầu của Việt Nam; nâng cấp các viện thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường bảo đảm điều kiện đào các chuyên gia đầu ngành về TN&MT.
Để thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp đã được đề ra trong Quy hoạch, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường yêu cầu phải đổi mới và nâng cao nhận thức, tăng cường tuyên truyền về đào tạo, phát triển và sử dụng nhân lực; Đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách về đào tạo, phát triển và sử dụng nhân lực Ngành; Tập trung xây dựng và thực hiện các chương trình, dự án trọng điểm; Đầu tư, xây dựng và phát triển các cơ sở đào tạo; Xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý đào tạo, chương trình, giáo trình trong các lĩnh vực TN&MT; Đảm bảo vốn cho phát triển nhân lực.
Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ thành lập Ban chỉ đạo Quy hoạch do đồng chí Bộ trưởng làm Trưởng ban, một Thứ trưởng làm Phó trưởng ban, uỷ viên bao gồm một số cán bộ cấp Vụ thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, cùng đại diện các Bộ khác có liên quan. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị các Bộ, ngành căn cứ chức năng, nhiệm vụ, nhu cầu đào tạo, phát triển nhân lực của Bộ, ngành mình, chủ động phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ có liên quan thuộc Quy hoạch.
Tổng kinh phí đầu tư cho phát triển nhân lực ngành TN&MT giai đoạn 2012-2020 là 2.841 tỷ đồng, bao gồm nguồn ngân sách nhà nước phân bổ từ trung ương và địa phương chiếm 60%; nguồn ODA và các nguồn khác chiếm 40%. Kinh phí được phân bổ cho giai đoạn 1 là: 1.200 tỷ đồng, giai đoạn 2 là: 1.641 tỷ đồng.
