Cùng với các lĩnh vực khác như đầu tư, công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp…, ngoại thương của Thổ Nhĩ Kỳ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của nước này. Theo số liệu của Bộ Kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ so sách GDP, ngoại thương của nước này năm 2010 bằng 40,7%, năm 2011 bằng 48,7%, năm 2012 bằng 49,5%. Với chính sách phát triển hợp lý, ngoại thương Thổ Nhĩ Kỳ đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong thời gian qua.

Bảng thống kê ngoại thương Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn 2010 - 2013

Đơn vị tính: Tỷ USD

Năm

Tổng kim ngạch XNK

Tăng trưởng %

Xuất khẩu

Tăng trưởng %

Nhập khẩu

Tăng trưởng %

2010

299,5

23,3

114,0

11,8

185,5

31,5

2011

375,7

25,4

134,9

18,3

240,8

29,8

2012

389,0

3,5

152,5

13,0

236,5

- 1,8

7 tháng đầu năm 2013

237,1

5,2

88,3

1,4

148,8

7,7

Nguồn: Viện Thống kê Thổ Nhĩ Kỳ

Bảng thống kê trên cho thấy, trong những năm gần đây kim ngạch xuất nhập khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ luôn duy trì được sự tăng trưởng. Trong đó, năm 2010 và 2011 đạt mức tăng trưởng cao với 2 con số. Trong khi đó, mặc dù có sự tăng trưởng, nhưng năm 2012 chỉ đạt ở mức thấp do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế châu Âu cũng như những xung đột về chính trị của các nước như Syria, Bắc Phi…đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngoại thương của Thổ Nhĩ Kỳ. Các chuyên gia kinh tế cho rằng, sự ảnh hưởng này vẫn còn tiếp diễn ít nhất đến hết năm 2013. Trên thực tế, số liệu 7 tháng đầu năm 2013 đã chứng minh sự đánh giá của các chuyên gia là có cơ sở.

Cụ thể, so với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất nhập khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ năm 2010 đạt 299,5 tỷ USD, tăng 23,3%; năm 2011 đạt 373,7 tỷ USD, tăng 25,4%; năm 2012 đạt 389 tỷ USD, tăng 3,5%; riêng 7 tháng đầu năm 2013 đạt 237,1 tỷ USD, tăng 5,2%.

Cũng giống như một số các nước đang phát triển khác, để thúc đẩy sản xuất trong nước và phục vụ xuất khẩu, nên nhập khẩu là điều cần thiết đối với nền kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ. Điều dễ nhận thấy trong hoạt động ngoại thương ở quốc gia này là luôn nhập siêu. Đây cũng là nỗi lo của các nhà quản lý kinh tế, hoạch định chính sách Thổ Nhĩ Kỳ.

Theo số liệu của Viện Thống kê Thổ Nhĩ Kỳ, chỉ tính riêng giai đoạn 2010 – 2013 (7 tháng đầu năm), Thổ Nhĩ Kỳ nhập siêu đến 321,9 tỷ USD, bằng 133,7% kim ngạch nhập khẩu năm 2011 (năm có kim ngạch nhập khẩu cao nhất trong giai đoạn này). Cụ thể, năm 2010 nhập siêu 71,5 tỷ USD, bằng 62,7% kim ngạch xuất khẩu; năm 2011 đạt 105,9 tỷ USD, bằng 78,5% kim ngạch xuất khẩu; năm 2012 đạt 84 tỷ USD, bằng 55% kim ngạch xuất khẩu; 7 tháng đầu năm 2013 đạt 60,5 tỷ USD, bằng 68,5% kim ngạch xuất khẩu.

Như vậy, có thể thấy năm 2011 có mức nhập siêu và tỷ trọng so kim ngạch xuất khẩu cao nhất, đứng thứ hai là năm 2010, tiếp đến 7 tháng đầu năm 2013 (con số có thể thay đổi khi tính hết năm) và thấp nhất là năm 2012. Đặc biệt, tỷ trọng nhập siêu của những năm này đều chiếm trên 50% so kim ngạch xuất khẩu.

Phần 2. Xuất khẩu

1. Hàng hóa xuất khẩu

Như đã đề cập ở phần 1, mặc dù gặp những bất lợi về thị trường do những yếu tố khách quan về chính trị, kinh tế trong khu vực và thế giới, nhưng xuất khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ vẫn đạt được những thành quả nhất định trong giai đoạn 2010 – 2013.

Theo số liệu của Viện Thống kê Thổ Nhĩ Kỳ, so cùng kỳ năm trước, xuất khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ năm 2010 đạt 114 tỷ USD, tăng 11,8%; năm 2011 đạt 134,9 tỷ USD, tăng 18,3%; năm 2012 đạt 152,5%, tăng 13%; riêng 7 tháng đầu năm 2013 đạt 88,3 tỷ USD tăng nhẹ 1,4%.

Điều này cho thấy, Thổ Nhĩ Kỳ duy trì được sự tăng trưởng xuất khẩu trong giai đoạn này. Trong đó, năm 2011 có mức tăng cao nhất, đứng thứ 2 về mức tăng trưởng là năm 2012, tiếp đến là 2010 và cuối cùng là 7 tháng đầu năm 2013.

Theo số liệu thống kê của Bộ Kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ, kim ngạch xuất khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ năm 2010 chiếm 0,75% trong tổng kim ngạch xuất khẩu toàn cầu, năm 2011 chiếm 0,74%, năm 2012 chiếm 0,83%.

Cơ cấu một số hàng xuất khẩu chủ lực của Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn 2010 - 2013

Đơn vị tính: Tỷ USD

Phân theo Chương của biểu thuế hải quan

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

7 tháng đầu năm 2013

87

Xe cộ và phụ tùng

13,8

15,8

15,1

9,9

84

Nồi hơi; máy, thiết bị cơ khí; phụ tùng

9,4

11,6

12,0

7,5

72

Sắt thép

8,7

11,2

11,3

6,3

85

Máy móc thiết bị điện và phụ tùng

7,5

8,9

9,4

5,3

73

Sản phẩm sắt thép

4,8

5,7

6,1

3,6

62

Quần áo và hàng may mặc phụ trợ, không dệt kim hoặc móc

4,6

5,1

5,4

3,4

27

Nhiên liệu khoáng, dầu khoáng và các sản phẩm trưng cất từ chúng

4,5

6,5

7,7

3,8

39

Nhựa và sản phẩm nhựa

3,7

4,6

5,0

3,2

8

Trái cây, hạt ăn được; vỏ cam, quýt

3,5

3,9

3,8

1,9

25

Muối; lưu huỳnh; đất, đá; thạch cao; xi măng

2,5

2,5

2,5

1,6

Nguồn: Viện Thống kê Thổ Nhĩ Kỳ

Bảng thống kê trên cho thấy, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn 2010 – 2013 (7 tháng đầu năm) không có nhiều thay đổi khi nhóm hàng thuộc Chương 87 luôn chiếm kim ngạch cao nhất, đứng thứ 2 là nhóm hàng thuộc Chương 84, tiếp đến là Chương 72, 85. Chỉ có sự thay đổi nhỏ ở Chương 27 về thứ hạng giá trị kim ngạch xuất khẩu khi năm 2010 hàng hóa thuộc Chương này xếp thứ 7 thì các năm 2011, 2012 và năm 2013 xếp thứ 5, đồng thời nhóm hàng thuộc Chương 73, 62 của 3 năm này xếp tương ứng ở vị trí thứ 6 và 7, trong khi năm 2010 xếp ở vị trí thứ 5 và 6. Còn lại từ vị trí thứ 8 – 10 không có sự thay đổi trong giai đoạn này.

Cụ thể, so cùng kỳ năm trước, đối với nhóm hàng thuộc Chương 87, năm 2010 đạt 13,8 tỷ USD, tăng 12,2%; năm 2011 đạt 15,8 tỷ USD, tăng 14,5%; năm 2012 đạt 15,1, giảm 4,4%; 7 tháng đầu năm 2013 đạt 9,9 tỷ USD, tăng 8,8%.

Đối với nhóm hàng thuộc Chương 84, năm 2010 đạt 9,4 tỷ USD, tăng 16%; năm 2011 đạt 11,6 tỷ USD, tăng 23,4%; năm 2012 đạt 12 tỷ USD, tăng 3,4%; 7 tháng đầu năm 2013 đạt 7,5 tỷ USD, tăng 8,7%.

Đối với nhóm hàng thuộc Chương 72, năm 2010 đạt 8,7 tỷ USD, tăng 14,5%; năm 2011 đạt 11,2 tỷ USD, tăng 28,7%; năm 2012 đạt 11,3 tỷ USD, tăng 0,9%; 7 tháng đầu năm 2013 đạt 6,3 tỷ USD, giảm 7,3%.

Đối với nhóm hàng thuộc Chương 85, năm 2010 đạt 7,5 tỷ USD, tăng 13,6%; năm 2011 đạt 8,9 tỷ USD, tăng 18,7%; năm 2012 đạt 9,4 tỷ USD, tăng 5,7%; 7 tháng đầu năm 2013 đạt 5,3 tỷ USD, giảm 1,9%.

Đối với nhóm hàng thuộc Chương 73, năm 2010 đạt 4,8 tỷ USD, tăng 6,7%; năm 2011 đạt 5,7 tỷ USD, tăng 18,7%; năm 2012 đạt 6,1 tỷ USD, tăng 7%; 7 tháng đầu năm 2013 đạt 3,6 tỷ USD, tăng 5,9%.

Đối với nhóm hàng thuộc Chương 62, năm 2010 đạt 4,6 tỷ USD, tăng 7%; năm 2011 đạt 5,1 tỷ USD, tăng 10,9%; năm 2012 đạt 5,4 tỷ USD, tăng 5,9%; 7 tháng đầu năm 2013 đạt 3,4 tỷ USD, tăng 6,3%.

Đối với nhóm hàng thuộc Chương 27, năm 2010 đạt 4,5 tỷ USD, tăng 15,4%; năm 2011 đạt 6,5 tỷ USD, tăng 44,4%; năm 2012 đạt 7,7 tỷ USD, tăng 18,5%; 7 tháng đầu năm 2013 đạt 3,8 tỷ USD, giảm 11,6%.

Đối với nhóm hàng thuộc Chương 39, năm 2010 đạt 3,7 tỷ USD, tăng 19,4%; năm 2011 đạt 4,6 tỷ USD, tăng 24,3%; năm 2012 đạt 5,0 tỷ USD, tăng 8,7%; 7 tháng đầu năm 2013 đạt 3,2 tỷ USD, tăng 10,3%.

Đối với nhóm hàng thuộc Chương 8, năm 2010 đạt 3,5 tỷ USD, tăng 16,7%; năm 2011 đạt 3,9 tỷ USD, tăng 11,4%; năm 2012 đạt 3,8 tỷ USD, giảm 2,6%; 7 tháng đầu năm 2013 đạt 1,9 tỷ USD, tăng 5,6%.

Đối với nhóm hàng thuộc Chương 25, năm 2010 đạt 2,5 tỷ USD, tăng 13,7%; năm 2011 và 2012 đều đạt 2,5 tỷ USD, không có sự tăng trưởng; 7 tháng đầu năm 2013 đạt 1,6 tỷ USD, tăng 14,3%.

Như vậy, có thể thấy hầu hết các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn 2010 – 2013 (7 tháng đầu năm) đều có sự tăng trưởng, trong đó nhóm hàng thuộc Chương 27 năm 2011 có tốc độ tăng trưởng cao nhất với 44,4%. Nhóm hàng thuộc Chương 25 hai năm liền không có sự tăng trưởng (2011 và 2012). Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng giảm mạnh nhất cũng là nhóm hàng thuộc Chương 27 với 11,6% trong 7 tháng đầu năm 2013, tiếp đến là nhóm hàng thuộc Chương 72 giảm 7,3% trong 7 tháng đầu năm 2013, nhóm hàng thuộc Chương 87 giảm 4,4% năm 2012, nhóm hàng thuộc Chương 8 giảm 2,6% năm 2012, nhóm hàng thuộc Chương 85 giảm 1,9% trong 7 tháng đầu năm 2013.

2. Thị trường xuất khẩu

Thổ Nhĩ Kỳ xuất khẩu sang trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Tuy nhiên, cơ cấu thị trường xuất khẩu của nước này chủ yếu vẫn tập trung vào khối các nước EU, Mỹ, Trung Đông, Bắc Phi.

Các thị trường xuất khẩu chính của Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn 2010 – 2013

Đơn vị tính: Tỷ USD

Tên nước

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

(7 tháng đầu năm)

Đức

11,5

13,9

13,1

7,8

Anh

7,2

8,2

8,7

4,8

Ý

6,5

7,9

6,4

4,0

Pháp

6,1

6,8

6,2

3,7

Irắc

6,0

8,3

10,8

6,6

Nga

4,6

6,0

6,7

4,0

Mỹ

3,7

4,6

5,6

3,4

Tây Ban Nha

3,5

3,9

3,7

2,4

UAE

3,3

3,7

8,2

3,0

Iran

3,0

3,6

9,9

2,9

Nguồn: Viện Thống Kê Thổ Nhĩ Kỳ

Bảng thống kê trên cho thấy, nhìn chung cơ cấu thị trường xuất khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn này không có nhiều xáo trộn khi khối các thị trường chiếm kim ngạch cao nhất luôn là EU, trong đó đứng đầu là thị trường Đức. Sự thay đổi rõ nét nhất có thể nhận thấy đó là liên tiếp kể từ năm 2011 đến nay, Irắc từ vị trí thứ 5 về kim ngạch xuất khẩu năm 2010 vươn lên vị trí thứ 2 sau Đức. Đồng thời, 2012 là năm có nhiều xáo trộn về thứ hạng xuất khẩu khi Iran từ vị trí thứ 10 năm 2010 và 2011 vươn lên vị trí thứ 3 sau Irắc, trong khi đó UAE từ vị trí thứ 9 năm 2010 và 2011 vươn lên vị trí thứ 4 sau Iran. Ngoài ra, Nga từ vị trí thứ 6 năm 2010, 2011 và 2012 vươn lên đồng vị trí thứ 3 với Ý trong 7 tháng đầu năm 2013.

Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi về thứ hạng thị trường xuất khẩu nêu trên xuất phát từ việc Thổ Nhĩ Kỳ có chủ trương và hành động đẩy mạnh xuất khẩu sang các quốc gia láng giềnh và khu vực Trung Đông, Bắc Phi (trong đó có Iran, Irắc, UAE…) trong những năm gần đây để hoàn thành mục tiêu xuất khẩu dài hạn đạt kim ngạch 500 tỷ USD vào năm 2023. Trước đó, nước này cũng đưa ra chính sách xuất khẩu “hướng Đông” nhằm một mặt đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, giảm nhập siêu, mặt khác phục vụ mục tiêu xuất khẩu dài hạn. Đến nay, nhìn chung đã có những chuyển biến tích cực.

Xét về tốc độ tăng trưởng, năm 2010 chỉ có thị trường Pháp giảm 1,6%, còn lại các thị trường trọng điểm khác đều có sự tăng trưởng. Trong đó, tăng cao nhất là Iran 50%, tiếp đến là Nga 43,8%, Tây Ban Nha 25%..., tăng thấp nhất là Ý 10,2%.

Trong giai đoạn này duy nhất năm 2011 là Thổ Nhĩ Kỳ đạt được sự tăng trưởng xuất khẩu ở tất cả các thị trường trọng điểm. Trong đó, Irắc tăng cao nhất với 38,3%, tiếp đến là Nga 30,4%, Mỹ 24,3%..., thị trường tăng thấp nhất là Tây Ban Nha 11,4%, các thị trường còn lại đều tăng trưởng ở mức 2 con số.

2012 là năm xuất khẩu Thổ Nhĩ Kỳ có nhiều xáo trộn về kết quả xuất khẩu nhất, đặc biệt đối với các thị trường trọng điểm. Ngoài việc thứ hạng kim ngạch thay đổi đã nêu trên, năm 2012 có đến 3 thị trường đều năm trong khối EU đạt mức tăng trưởng âm, thứ tự lần lượt là Ý giảm 19%, Pháp giảm 8,8% và Đức giảm 5,8%. Nguyên nhân giảm là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế chung của Châu Âu. Nhưng ngược lại, có 2 nước đạt mức tăng rất cao là Iran 175% và UAE 121,6%. Còn lại các thị trường khác đều tăng trưởng.

Cũng giống như năm 2010, trong số các thị trường trong điểm, năm 2013 (7 tháng đầu năm) có duy nhất Iran đạt mức tăng trưởng xuất khẩu âm 63,8%. Còn lại các thị trường khác đều có sự tăng trưởng. Trong đó, tăng cao nhất là UAE 25%, tiếp đến là Tây Ban Nha 11,6%, Irắc 10%..., tăng thấp nhất là Đức 1,3%./.

Trần Ngọc Hà