Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng trưởng 17% với lượng hàng từ hai lĩnh vực xuất khẩu lớn nhất Việt Nam là may mặc, dệt may và các thiết bị CNTT& VT tăng 25% trong năm 2013. Do xuất khẩu mạnh nên Việt Nam đã duy trì được trạng thái xuất siêu kể từ năm 2012 và điều này cũng góp phần ổn định tiền tệ.
Theo báo cáo, chỉ số Tin cậy thương mại của Việt Nam nửa đầu năm 2014 tăng đến 120 điểm, cao nhất trong vòng hơn 3 năm qua qua, tuy vẫn thấp hơn mức kỷ lục 132 điểm của nửa cuối 2010. Có 54% doanh nghiệp cho biết các rào cản tăng trưởng kinh tế là giá cả dịch vụ hậu cần, vận chuyển và kho bãi cao. Việt Nam đã có các bước tiến tốt nhằm cải thiện điều kiện kinh doanh trong mười năm qua.
Gần một nửa doanh nghiệp tham gia khảo sát cho rằng các hoạt động thương mại sẽ sôi nổi hơn trong sáu tháng tới, một phần ba trong số đó cho biết là do lực cầu cao hơn từ các thị trường chính.
Về cơ hội giao thương, Báo cáo đánh giá Việt Nam có nhiều yếu tố hấp dẫn thị trường và các yếu tố này sẽ tiếp tục hỗ trợ triển vọng thương mại của Việt Nam. Thứ nhất, Việt Nam nằm ở trung tâm châu Á, giữa các nước láng giềng là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật, và nhiều nước Đông Nam Á khác. Thứ hai, triển vọng kinh tế vĩ mô Việt Nam đã có nhiều cải thiện, lạm phát dưới mức 5% trong năm, trạng thái xuất siêu duy trì gần đây và tiền tệ ổn định. Các hiệp định thương mại trong khu vực là nguyên nhân thứ ba thúc đẩy thương mại nội vùng Châu Á phát triển hơn trong những năm gần đây. Dựa vào lợi thế địa lý tại trung tâm Châu Á, Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội hợp tác thương mại chủ yếu với các thị trường mới nổi khác trong khu vực, các chuyên gia nhận định.
Theo HSBC, phần lớn các doanh nghiệp tham gia khảo sát cho biết các đối tác thương mại chính của họ nằm trong khu vực này. Các hiệp định thương mại trong những năm gần đây đã thắt chặt quan hệ hợp tác thương mại trong khu vực. Gần ba phần tư các doanh nghiệp cho biết các hiệp định thương mại đã tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương quốc tế.
Các chuyên gia của HSBC tin rằng kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng mạnh trong vài năm tới. Với nền công nghiệp đa dạng bên cạnh viêc mở rộng đầu tư, Việt Nam sẽ đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ sản phẩm ngày càng tăng của thị trường mới nổi Châu Á. Ngành sản xuất thiết bị CNTT&VT sẽ là ngành xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam, sau dệt may, từ nay cho đến 2030. Tăng trưởng xuất khẩu thiết bị viễn thông sẽ tạo nhiều đất cho doanh nghiệp trong nước phát huy sản xuất để thay thế các sản phẩm, linh kiện nhập khẩu hiện nay.
Ngành dệt may sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh
Theo đánh giá của Báo cáo, doanh thu xuất khẩu các mặt hàng dệt may sẽ tiếp tục đóng góp lớn nhất cho tổng kim ngạch xuất khẩu dù lĩnh vực xuất khẩu các thiết bị công nghệ thông tin và viễn thông (CNTT &VT) cũng sẽ tăng trưởng mạnh.
Xu hướng đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam cho thấy Việt Nam đang chuyển dịch lên dây chuyền sản xuất quần áo giá trị cao hơn để xuất khẩu và đây là ngành ít bị ảnh hưởng bởi yếu tố giá. Việt Nam xuất khẩu gần một nửa tổng sản lượng hàng dệt may qua Mỹ trong 2012. Nhu cầu của thị trường Mỹ sẽ còn tăng mạnh trong trung-dài hạn, do thu nhập bình quân của Mỹ tăng chậm sẽ tạo ra nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm có giá mềm hơn.
Thị trường xuất khẩu dệt may trọng yếu của Việt Nam đang từng bước chuyển sang hướng Đông. Xuất khẩu hàng dệt may sang Trung Quốc chiếm 6% trong tổng sản lượng của ngành trong năm 2013, các nước khác trong khu vực, không tính Nhật, chiếm 12% trong tổng sản lượng. Các chuyên gia cho rằng sản lượng xuất khẩu hàng dệt may sang Trung Quốc sẽ tăng gấp đôi vào năm 2020 phản ánh nhu cầu tăng cao từ thị trường trung cấp.
Thị phần xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ sẽ giảm từ mức 50% của 2013 xuống gần 40% vào 2020. Tuy chỉ mới là thị trường tương đối nhỏ so với các thị trường Châu Á và phương Tây, nhưng Trung Đông đang tăng trưởng nhanh chóng trở thành thị trường xuất khẩu dệt may quan trọng của Việt Nam.
