Kết quả đầu tư trong nước giai đoạn 2001 - 2005 và đề xuất một số giải pháp quản lý đầu tư hiệu quả

Thực hiện kế hoạch 5 năm 2001-2005, ngành Công nghiệp Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức để hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho, với những kết quả rất đáng khích lệ. Giá trị

 Trong nội bộ ngành công nghiệp, tỷ trọng công nghiệp chế biến tăng từ 79,7% lên 84,9%; công nghiệp khai thác giảm từ 13,8% xuống còn 9,1%; công nghiệp sản xuất, phân phối điện, khí đốt và nước giảm từ 6,5% xuống 6%. Những sản phẩm công nghiệp chủ yếu phục vụ sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu đều có mức tăng khá trong nhiều năm; nhiều mặt hàng cơ bản thỏa mãn nhu cầu trong nước như than mỏ, thép xây dựng, phân lân, phân NPK, săm lốp xe đạp, săm lốp xe máy, pin, ắc quy, chất tẩy rửa, quần áo may sẵn, giày dép, sữa, dầu thực vật... Tỷ trọng hàng công nghiệp xuất khẩu tăng dần và đạt 75,8% năm 2005. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu đã có sự chuyển dịch tích cực, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản tăng 16,8% và chiếm tỷ trọng 34,2% tổng kim ngạch XK; Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và TTCN tăng 21% và chiếm tỷ trọng 40,7%.

Một trong những lí do đạt được kết quả trên là công tác đầu tư phát triển đã được Bộ Công nghiệp hết sức quan tâm chỉ đạo; các doanh nghiệp trong toàn ngành đã chủ động huy động mọi nguồn vốn để thực hiện đầu tư các dự án nhằm tăng năng lực sản xuất và đổi mới công nghệ, thiết bị để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm. Đối với lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, tổng vốn đầu tư thực hiện 5 năm qua đạt khoảng trên 530 nghìn tỷ đồng, chiếm hơn 44% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Hiệu quả đầu tư (tính theo chỉ số ICOR) tăng dần, năm 2005 ước đạt 2,6, cao hơn năm đầu kỳ kế hoạch (năm 2001 là 3,7), tương đương với mức chung của đầu tư xã hội.

Xin điểm qua một số ngành có vốn đầu tư lớn:

Ngành Điện: Hàng năm có hàng nghìn dự án đầu tư, với tổng vốn đầu tư thực hiện từ 20.000  25.000 tỷ đồng, tạo cơ sở đáp ứng nhu cầu điện năng của nền kinh tế. Trong 5 năm qua, công suất nguồn điện đã tăng thêm được 3.760 MW cùng với hàng nghìn km đường dây với hàng chục ngàn MVA các trạm biến áp được lắp đặt.

Nhiều thành phần kinh tế đã tham gia đầu tư vào ngành Điện, từ đó từng bước hình thành thị trường điện cạnh tranh. Thành công bước đầu đó là đã đưa vào vận hành các nhà máy điện BOT lớn và hàng trăm các dự án thuỷ điện đã được các chủ đầu tư đăng ký phát triển dự án.

Ngành Than đã có thành tích nổi bật trong việc mở rộng đầu tư sang các lĩnh vực kinh doanh khác như phát điện, cơ khí, vận tải v.v... góp phần vào sự phát triển chung của toàn ngành công nghiệp. Thành công bước đầu trong việc đưa các nhà máy điện đầu tiên vào vận hành như Na Dương, Cao Ngạn là cơ sở để thực hiện hàng loạt các dự án tiếp theo của ngành Than.

Ngành Dầu khí gặp không ít khó khăn trong việc triển khai đầu tư các Dự án quan trọng quốc gia, nhưng từ cuối năm 2003 đến nay đã có bước chuyển biến đáng khích lệ, các khó khăn dần được tháo gỡ. Việc đưa nhà máy Đạm Phú Mỹ vào hoạt động, khởi công xây dựng khu lọc dầu Dung Quất, ký kết được các hợp đồng EPC của dự án Đường ống khí và nhà máy điện Cà Mau là thắng lợi bước đầu cực kỳ quan trọng và là cơ sở để đẩy nhanh tiến độ thực hiện trong thời gian tiếp theo. Trong 5 năm này, Dự án Khí - Điện - Đạm Bà Rịa Vũng Tàu đã cơ bản hoàn thành và đi vào hoạt động 9/12 dự án thành phần và đã phát huy hiệu quả.

Ngành Thép đã chú ý đến việc đa dạng hoá sản phẩm; từng bước đổi mới hiện đại hoá công nghệ góp phần giữ vững tốc độ tăng trưởng và năng lực cạnh tranh trên thị trường. Trong đó phải kể đến Dự án cải tạo và mở rộng Công ty Gang thép Thái Nguyên đã tạo tiền đề cho Công ty vượt qua thời kỳ khó khăn; Dự án Nhà máy Thép Phú Mỹ công suất 500.000 tấn phôi thép/năm và 400.000 tấn thép cán/năm đi vào sản xuất trong quý II năm 2005, góp phần tăng năng lực sản xuất phôi thép. Tuy nhiên, ngành Thép còn nhiều khó khăn phía trước, nhất là việc triển khai Dự án khai thác mỏ sắt Thạch Khê và khu liên hợp luyện kim.

Ngành Phân bón - Hoá chất đã thực hiện nhiều dự án đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, thiết bị, góp phần đưa năng lực sản xuất các sản phẩm cơ bản như phân bón, săm lốp ôtô, xe máy xe đạp, ắc qui, các loại hoá chất cơ bản… tăng gấp nhiều lần so với trước. Các dự án điển hình là hoàn thành cải tạo kỹ thuật Công ty Phân đạm và hoá chất Hà Bắc; mở rộng nâng công suất sản xuất lốp ô tô của các Công ty Cao su Sao Vàng, Cao su miền Nam, Cao su Đà Nẵng; đầu tư mới nhà máy sản xuất phốtpho. Ngành cũng đang tập trung triển khai Dự án DAP 33 vạn tấn/năm, Dự án đạm than Ninh Bình là những dự án mang tính quyết định cho giai đoạn tăng trưởng mới.

Ngành Khoáng sản: Nhìn chung công tác đầu tư phát triển các dự án thuộc ngành khai khoáng gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên giai đoạn 2001-2005 đã có nhiều chuyển biến tích cực hơn. Một số công trình đã được hoàn thành như khai thác cromit Mỹ Cái bằng tàu cuốc, nhà máy thủy điện Bản Pắc, dự án khai thác quặng măng gan Phiên Lang-Làng Bàng, xưởng điện phân tinh luyện thiếc thỏi (Thái Nguyên)... Hai dự án lớn là nhà máy kẽm điện phân Thái Nguyên, đồng Sin Quyền cũng đã từng bước đưa vào hoạt động trong những tháng đầu năm 2006.

Ngành Công nghiệp Tiêu dùng và Thực phẩm: Để nâng cao tỷ lệ sử dụng nguyên liệu trong nước và bảo đảm môi trường, Tổng công ty Dệt - May VN đã tập trung đầu tư vào các công trình dệt nhuộm hoàn tất tại các khu công nghiệp Hoà Khánh, Phố Nối... các công trình xử lý nước thải và di dời những doanh nghiệp dệt ra khỏi các trung tâm thành phố. Đồng thời, thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo quy hoạch vùng lãnh thổ. Nhiều dự án may đã được Tổng công ty chuyển về đầu tư tại các địa phương, góp phần thay đổi cơ cấu công nghiệp địa phương, giải quyết việc làm và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm.

Các dự án ngành Giấy nhằm mục tiêu nâng cao năng lực sản xuất bột giấy và giấy trong nước, song là những dự án gắn với vùng nguyên liệu, có hiệu quả kinh tế dự án không cao nên việc triển khai nói chung gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt trong khâu thu xếp vốn. Tuy vậy, Tổng công ty Giấy Việt Nam cũng đã hoàn thành dự án mở rộng công suất Công ty Giấy Bãi Bằng giai đoạn I và đang hoàn thiện dự án mở rộng giai đoạn II sản xuất bột giấy 250.000 T/năm. Riêng dự án Nhà máy giấy và bột giấy Thanh Hoá tiến triển chậm; dự án giấy và bột giấy Kon Tum đã phải dừng đầu tư.

Trước nhu cầu ngày càng tăng cao về các sản phẩm bia và mức độ  cạnh tranh ngày càng lớn, hai TCT Bia-Rượu-Nước giải khát Sài Gòn và Hà Nội đã một mặt tập trung đầu tư nâng cao công suất hiện có, mặt khác tiếp nhận thêm một số nhà máy bia của địa phương và tích cực triển khai một số dự án sản xuất bia mới như Dự án xây dựng nhà máy Bia Củ Chi, Dự án nhà máy Bia Vĩnh Phúc.

Để thực hiện mục tiêu kế hoạch 5 năm 2006-2010 mà trước mắt là kế hoạch 2006 với mức độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp phấn đấu trên 15,5%, tăng trưởng giá trị gia tăng trên 10,5%, công tác đầu tư phát triển cần tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa. Theo dự kiến, đầu tư cho ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 44,5% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội, tương đương với 980 nghìn tỷ đồng (theo giá 2005), tăng 1,83 lần giai đoạn 2001-2005. Riêng các Tổng Công ty, đơn vị thuộc Bộ Công nghiệp khoảng 512 nghìn tỷ đồng. Đây là một số lượng vốn rất lớn, chiếm khoảng 23,2% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

Để tăng cường công tác quản lý và nâng cao hiệu quả đầu tư, ngay khi bước vào thực hiện kế hoạch năm 2006, Bộ Công nghiệp đã ban hành Chương trình hành động của ngành nhằm thực hiện tốt Nghị  quyết của Chính phủ về một số giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2006; Chỉ thị về việc tăng cường công tác quản lý đầu tư và xây dựng... với một số nội dung chủ yếu sau:

1. Tổ chức rà soát điều kiện thực hiện các dự án đầu tư để cắt giảm hoặc đình hoãn những công trình, dự án không phù hợp với quy hoạch phát triển được duyệt, không sát với yêu cầu thiết thực của ngành, của thị trường hoặc không có khả năng thực hiện để tập trung nguồn lực cho các dự án trọng điểm và dự án có đủ điều kiện. Các dự án khởi công phải đảm bảo đủ và đúng thủ tục theo quy định của Nhà nước.

2. Đối với những dự án tiếp tục thực hiện phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Nhà nước về đấu thầu, không để xảy ra các trường hợp thông đồng tiêu cực; tổ chức kiểm tra thường xuyên, kịp thời phát hiện những thiếu sót và sai phạm để chấn chỉnh và báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định các hình thức kỷ luật, khi cần thiết phải chuyển sang cơ quan pháp luật để có biện pháp xử lý. Không tổ chức đấu thầu khi chưa thu xếp được nguồn vốn thực hiện để tránh nợ đọng hoặc kéo dài thời gian thi công công trình.

3. Thực hiện nghiêm túc công tác giám sát, đánh giá đầu tư, đảm bảo chế độ báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư theo quy định tại Thông tư số 03/2003/TT-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

4. Tăng cường công tác giám sát thi công xây dựng để kiểm tra chặt chẽ về chất lượng công trình, khối lượng và tiến độ thực hiện, về an toàn lao động và vệ sinh môi trường trong quá trình thi công. Nghiêm cấm việc nghiệm thu khống để chạy theo tiến độ giải ngân. Xử lý nghiêm khắc các trường hợp thông đồng giữa giám sát thi công với nhà thầu xây dựng và nhà thầu cung cấp vật tư, thiết bị.

5. Thực hiện giám sát cộng đồng đối với các dự án đầu tư xây dựng theo nội dung được quy định tại Điều 74 Luật Xây dựng. Tổ chức và tạo điều kiện cho Thanh tra nhân dân và các đoàn thể quần chúng của đơn vị tham gia công tác kiểm tra, giám sát dự án.

6. Rà soát, kiểm tra lại nhiệm vụ và quyền hạn các Ban Quản lý dự án thuộc đơn vị, đối chiếu với quy định tại Luật Xây dựng và các Nghị định của Chính phủ về quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành, để bổ sung, sửa đổi cho đúng quy định của pháp luật hoặc nếu thấy không phù hợp phải tổ chức lại hoặc giải thể. Tăng cường sự kiểm tra, giám sát của Chủ đầu tư với Ban quản lý dự án với tư cách là cơ quan giúp Chủ đầu tư và chịu trách nhiệm trước Chủ đầu tư và trước pháp luật theo nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Hạn chế việc một Ban quản lý dự án đồng thời quản lý nhiều dự án.

7. Rà soát đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác đầu tư xây dựng, chỉ tuyển chọn những người có đủ năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, có đạo đức và tinh thần trách nhiệm cao vào các Ban quản lý. Thường xuyên tổ chức nâng cao trình độ chuyên môn và pháp luật cho đội ngũ cán bộ, nhân viên trực tiếp quản lý đầu tư và xây dựng.

8. Kịp thời báo cáo với Bộ Công nghiệp và các Bộ, ngành có liên quan khi có các vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án đầu tư để được hướng dẫn, giải quyết. Nghiêm cấm tình trạng đơn vị tự ý xử lý vượt thẩm quyền rồi mới báo cáo cấp trên nhằm hợp thức hóa.

9. Trong phạm vi quyền hạn của mình, Thủ trưởng các đơn vị có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra và giám sát các chủ đầu tư dưới quyền thực hiện đúng quy định của Nhà nước về quản lý đầu tư và xây dựng và chịu trách nhiệm về các sai phạm của đơn vị mình và các đơn vị do mình quản lý. Nghiêm cấm việc bao che, xử lý nội bộ đối với các sai phạm gây ảnh hưởng lớn tới chất lượng công trình, gây thất thoát, lãng phí tiền của của Nhà nước, và nhân dân.

Hy vọng rằng, dưới sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, sự hỗ trợ và giúp đỡ có hiệu quả của các Bộ, ban ngành và các địa phương, sự năng động, sáng tạo của các doanh nghiệp trong toàn ngành, ngành Công nghiệp sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, tiếp tục giữ vai trò động lực cho phát triển kinh tế, góp phần đưa nước ta sớm ra khỏi tình trạng kém phát triển, cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
  • Tags: