Kinh nghiệm bảo vệ môi trường ở một số nước Đông Á

Bảo vệ môi trường (BVMT) đang là nhiệm vụ hết sức khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải đổi mới tư duy, đổi mới cách làm và cần những giải pháp mang tính đột phá. Để bảo đảm phát triển bền vững kinh tế - x

Nhật Bản
Ô nhiễm nước là một trong những vấn đề ô nhiễm nghiêm trọng nhất ở Nhật Bản, do 4 nguyên nhân chính là công nghiệp hóa nhanh chóng, đô thị hóa nhanh chóng, sự tụt hậu trong việc xây dựng các cơ sở hạ tầng xã hội như hệ thống thoát nước, cũng như chính sách một thời coi trọng phát triển kinh tế hơn là sức khỏe nhân dân và môi trường trong sạch. Bên cạnh đó, một loạt vấn đề khác cũng gây ô nhiễm nước, như nhiều nhà máy điện được xây dựng với quy mô ngày càng lớn và nhiệt thải ra là mối đe dọa đối với sinh vật biển và sông gần đó; dầu loang từ các con tàu chở dầu bị tai nạn cũng là một nguyên nhân lớn gây ô nhiễm nước. 

Để cải thiện chất lượng nước, Nhật Bản đã tiến hành nhiều biện pháp, trong đó có việc đề ra các tiêu chuẩn quốc gia về chất độc hại, các tiêu chuẩn về môi trường sống, các biện pháp kiểm tra và kiểm soát nghiêm ngặt môi trường sản xuất công nghiệp. Các luật quy định trách nhiệm gây ô nhiễm được thông qua, nhiều dự án được tiến hành để cải thiện hệ thống BVMT vùng tập trung nhiều cơ sở công nghiệp, cũng như các KCN mới. 

Chính phủ Nhật Bản đã có các biện pháp đối phó với nhiều hình thức ô nhiễm hoặc có hại đến môi trường, trong đó có ô nhiễm tiếng ồn, độ rung, rác thải, lún đất, các mùi khó chịu, ô nhiễm đất và ô nhiễm do công nghiệp, đặc biệt là các KCN tập trung gây ra. Năm 1967, Luật cơ bản phòng chống ô nhiễm môi trường ở Nhật Bản bắt đầu có hiệu lực, đề ra những chính sách và nguyên tắc chung về kiểm soát ô nhiễm, đồng thời khuyến khích nỗ lực làm sạch môi trường. Luật Bảo tồn thiên nhiên được thông qua năm 1972, tạo cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động BVMT. 

Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương, cũng như bản thân người dân Nhật Bản rất nỗ lực để làm sạch môi trường, nổi bật nhất là việc Nhật Bản đăng cai tổ chức hội nghị thế giới về khí hậu thay đổi ở Kyoto. 

Trung Quốc
Đặc thù của kinh tế Trung Quốc giai đoạn hậu cải cách là sự phát triển rầm rộ của KCN. Nhưng ô nhiễm từ KCN cũng là nguyên nhân của những thiệt hại nhãn tiền tới môi trường. Do vậy, Trung Quốc luôn chú ý tới vấn đề môi trường từ KCN. Theo một báo cáo từ Ngân hàng Thế giới (WB), các kế hoạch và chính sách quản lý môi trường ở nước này cho thấy, thiếu chính sách hình thành KCN có hệ thống giữa các cấp chính quyền; các chính sách quản lý KCN và xây dựng KCN thường không phù hợp; luật và các quy tắc về quản lý môi trường ở KCN không được chuẩn bị tốt và các cơ quan môi trường chưa được cải thiện cơ cấu để giải quyết nhiều vấn đề khi thực thi chính sách. 

Để vượt qua những thách thức này, chính quyền trung ương và địa phương ở Trung Quốc đã cố gắng thực hiện việc cải cách lại hệ thống và chính sách để thiết lập sự cân bằng giữa chính sách ở KCN và những kế hoạch phát triển cả ở mức quốc gia và theo vùng; tiếp theo, hình thành những chính sách xây dựng và phát triển KCN một cách toàn diện. Ngoài ra, họ sắp xếp lại cơ cấu các tổ chức quản lý môi trường ở các KCN, khuyến khích cải thiện vấn đề quản lý môi trường. Mọi chính sách phát triển kinh tế ở KCN đều ưu tiên cho vấn đề quản lý môi trường. 

Hàn Quốc
Chính sách phát triển KCN của Hàn Quốc lại tập trung vào năng suất quốc gia, cân bằng với phát triển các ngành kinh tế và công nghiệp địa phương; quản lý theo địa phận hiệu quả và phát triển bền vững. 

Một đặc điểm nổi bật là nỗ lực của chính quyền địa phương từ những năm 1990, đã tái cấu trúc các chính sách và cơ quan vận hành KCN theo bối cảnh tình hình kinh tế và nhu cầu nội tại. Để quản lý việc khoanh vùng hoạt động của các KCN, chính quyền Hàn Quốc đã thiết lập một cơ cấu đặc biệt. Trong đó, các công ty thuộc KCN quy tụ, tập trung tại một khu vực như KCN xăng - hóa chất, KCN do nước ngoài đầu tư và KCN dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. 

Điển hình, Hàn Quốc đưa ra chính sách Thành phố xanh. Các chính quyền địa phương có thể thấy rõ bức tranh thiết kế về Thành phố xanh cũng như hỗ trợ về tài chính và hành chính từ chính quyền trung ương. 

Đối với chính sách quản lý môi trường theo vùng tự nguyện khác, có thể cấp "chứng chỉ về xây dựng thân thiện với môi trường". Trong đó, chính quyền địa phương đánh giá 44 tiêu chí, kể cả việc sử dụng đất, giao thông và tiêu dùng năng lượng. Những việc này mang tới sự hỗ trợ về tài chính, làm giảm chi phí nhiều hơn cho chính quyền trung ương. 

Hiện tại, Hàn Quốc có hệ thống điểm các các - bon để thưởng cho các công ty sử dụng ít năng lượng. Số điểm này có thể được đổi thành tiền mặt hoặc phiếu quà tặng. Ngoài ra, còn có các hệ thống thưởng khác cho việc sử dụng phương tiện giao thông công cộng, mua sản phẩm xanh và thực hiện các biện pháp thân thiện môi trường khác.