Làm lý luận phải có “thiên lý nhãn”

Nhìn lại những năm vừa qua, công tác lý luận của ngành Công Thương đã thực hiện tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ được giao. Về mặt chiến lược đã có những đóng góp rất lớn, định hướng cho sự phát triển

Là hoạt động gắn bó chặt chẽ với sản xuất, kinh doanh, nên nói tới công tác lý luận của Bộ Công Thương chính là nói tới chiến lược và quy hoạch.

Ba điểm vướng trong công tác lý luận

Nhìn lại thực tiễn cả ở khía cạnh thành công và chưa thành công trong giai đoạn vừa qua thì có thể thấy rõ công tác lý luận mà cụ thể ở đây là các chiến lược và quy hoạch của chúng ta nổi lên 3 điểm hạn chế: chính sách thiếu đồng bộ, thiếu tính pháp chế và trình độ, khả năng của người làm quy hoạch.

Hãy bắt đầu từ khả năng của người quy hoạch. Người làm quy hoạch phải nhìn xa trông rộng, phải tính đến khả năng phát triển của vấn đề với một tầm nhìn sâu rộng. Đó chính là cái tầm của người làm chiến lược, hay nói rộng hơn là làm lý luận. Nếu thiếu khả năng này, “sản phẩm” dễ bị kém phẩm chất. Hai là, tính pháp lý của quy hoạch. Khi quy hoạch đã được phê duyệt rồi thì chúng ta phải tuân thủ quy hoạch. Thế nhưng ở Việt Nam có hai điểm “yếu”, một là bản thân quy hoạch đã yếu rồi, lại cộng với “yếu” trong tính pháp lý, nên quy hoạch không được thực hiện nghiêm. Khi thực hiện không nghiêm dẫn đến những phát sinh, biến tướng phá vỡ quy hoạch thì lại đổ ngược tại quy hoạch kém. Thực ra quy hoạch nào cũng thế, đều có phần giải pháp để thực hiện quy hoạch, giải pháp mà không được bảo đảm thì không thể thực hiện đúng. Trong cơ chế thị trường, không thể bắt buộc địa phương, doanh nghiệp phải nhất nhất làm theo quy hoạch. Chính vì vậy, đòi hỏi những người làm quy hoạch phải nắm bắt được những diễn biến thực tế, đồng thời lại phải có tầm nhìn mang tính dự báo. Nói cụ thể hơn là biết được cái gì là quy hoạch “cứng”, cái gì là quy hoạch “mềm”. Quy hoạch cứng thì bắt buộc phải làm, ví dụ như đến năm này con đường này phải xong, cái cầu này phải xong. Còn quy hoạch mềm thì khác. Những khu công nghiệp thì chỉ là những mô hình khung mang tính dự báo, ví dụ KCN đầu tư lĩnh vực cơ khí, đóng tàu, công nghiệp nặng… Nhà máy đóng tàu làm như thế nào còn phụ thuộc vào người đầu tư, cũng có thể có và cũng có thể không có, nhưng quy hoạch đó phải đạt một số yêu cầu bắt buộc là nếu đã công nghiệp nặng thì không thể cho công nghiệp chế biến hoặc công nghiệp nhẹ vào cùng.

Xin lấy một ví dụ cụ thể trong lĩnh vực ô tô, với hiện trạng của ngành công nghiệp ô tô hiện nay nhiều ý kiến cho rằng do quy hoạch sai. Nhưng không phải, quy hoạch rất đúng, chỉ có thực hiện không đúng mà thôi. Theo như quy hoạch ô tô, mấy năm trước, Việt Nam cần tập trung vào xe tải, xe buýt, sau khi có đủ tiềm lực rồi thì chuyển sang làm xe con, và chỉ với dòng xe thông dụng, giá rẻ, nhiều người mua được. Doanh nghiệp nào thực hiện đúng quy hoạch thì vẫn phát triển như Trường Hải, Xuân Kiên chẳng hạn. Còn những doanh nghiệp tư duy theo kiểu “đi tắt đón đầu” hoặc “ăn xổi ở thì” thì thất bại là đương nhiên. Nhưng liên quan đến sự thành – bại của quy hoạch ô tô còn là vấn đề giao thông, xây dựng, thuế… Ví dụ như trong quy hoạch là cấm làm đường dưới 7m, khuyến khích các nhà từ 5 tầng trở lên có chỗ đậu xe, không làm các nhà cao tầng trong nội thành… nhưng thực tế vì những lý do “ngoài quy hoạch” không có mấy nơi thực hiện đúng như vậy. Vì không thực hiện đúng quy hoạch, nên tất yếu nảy sinh những vấn đề rắc rối như ùn tắc, quá tải giao thông, đặc biệt là tại các đô thị lớn. Và các nhà quản lý bắt buộc phải ban hành những chính sách mang tính “chữa cháy”.

Làm lý luận phải có “thiên lý nhãn”

Như đã nêu ở phần trên, nếu muốn quy hoạch thành công thì phải có sự kết hợp đồng bộ của nhiều ngành. Hơn thế nữa là nhiều vùng. Về vấn đề này, trong những năm vừa qua, trong chính sách phát triển công nghiệp, chúng ta đã có thêm một phương thức làm quy hoạch mới, đó là quy hoạch theo vùng. Theo nhận định của chúng tôi lúc đó, nếu không liên kết vùng thì các tỉnh sẽ thi nhau đầu tư vào một số ngành hấp dẫn gây nên trùng lặp, lãng phí. Mặc dù thực tế về sau không phải tất cả các địa phương đều tuân thủ đúng chủ trương này, nhưng dù sao đó cũng là một sự thành công đáng ghi nhận. Cách làm này của Bộ Công Thương cũng được một số bộ tham khảo. Trước đây cách chia vùng này còn hết sức lạ lẫm với mọi người khi duyệt quy hoạch, chưa bao giờ lại có cái gọi là “quy hoạch theo vùng lãnh thổ”, nhưng bây giờ thì đã có rất nhiều các cuộc họp được tổ chức theo vùng Đông Nam Bộ, vùng kinh tế Tây Bắc, miền Trung – Tây Nguyên…, thậm chí còn thành lập các ban chỉ đạo như Ban chỉ đạo Tây Bắc, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ… Đây chính là một thành công lớn trong việc áp dụng lý thuyết vào thực tế.

Như vậy có thể thấy, khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn sẽ được giảm thiểu tối đa nếu trong quá trình làm phải nghiên cứu, kiểm tra, kiểm soát thường xuyên, khi thực tế không phù hợp với lý thuyết ngay lập tức phải điều chỉnh cho thích hợp.

Nói về tính dài hơi của các quy hoạch và chiến lược, tôi cũng nhớ lại một trong những quy hoạch được thực hiện tốt nhất là quy hoạch ngành Phân bón. Cho đến nay, khi Nhà máy Phân bón DAP Hải Phòng và Nhà máy Đạm Ninh Bình đi vào hoạt động, Việt Nam hoàn toàn chủ động về phân bón, ít ai ngờ rằng trước đây, đã có nhiều người cho rằng phân bón thì cần gì phải sản xuất. Quả là lúc đó phân bón của các nước vừa nhiều vừa rẻ, giá xăng dầu cũng rất thấp, nên việc nhập về quá đơn giản, cần gì phải đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất. Nhưng liệu điều này có tồn tại mãi hay không khi mà sau đó, giá xăng dầu tăng lên gấp 4, 5 lần, rồi hiện nay là cả chục lần? Hơn nữa, việc sản xuất phân bón là vô cùng quan trọng đối với một đất nước nông nghiệp như nước ta. Đó chính là thể hiện tầm nhìn xa - “thiên lý nhãn” của người làm quy hoạch và cũng chính là thành công của việc kiên định đưa thực tế song hành cùng lý thuyết.

Ts. Đỗ Hữu Hào - Nguyên Thứ trưởng Bộ Công Thương