Làng đan tre Thọ Đơn và những hy vọng mới

Cũng như những lão làng của nghề đan tre ở Thọ Đơn (xã Quảng Thọ, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình), ông Tiễn học nghề từ thủa còn để chỏm và cũng chỉ láng máng biết rằng, nghề này có ngót nghét cũng vài

Mới đến đầu làng, chúng tôi đã nghe rất rõ tiếng chẻ tre lốp cốp, tiếng cạo tre, vót vành rin rít, tiếng nan tre đan vào nhau tanh tách, tạo nên những âm thanh rất riêng của Thọ Đơn.
 Đến gia đình ông Nguyễn Văn Tiễn, tận mắt chứng kiến 3 đời nhà ông đang chung lưng với nghề, mới hiểu hết được sức sống mãnh liệt của một làng nghề. Nhà ông có cái sân rộng, ấy vậy mà chỗ nào cũng ngổn ngang những tre với rổ rá và dụng cụ. Ông Tiễn năm nay 65 tuổi, nhưng vẫn nhanh tay, nhanh mắt lắm. Nhìn tay ông đan, tôi thầm nghĩ, nếu như có một cuộc thi về nghề đan tre, hẳn ông sẽ bỏ lại lớp trai tráng đằng sau mà giành lấy cái giải “quán quân” cũng nên. Cũng như những lão làng trong nghề đan tre, ông Tiễn học nghề từ thủa còn để chỏm và cũng chỉ láng máng biết rằng nghề này có ngót nghét cũng vài trăm năm. Nguồn gốc xuất xứ của nghề thì có vẻ như hơi mơ hồ, nhưng cái mà ông, cũng như mọi người dân Thọ Đơn hôm nay hiểu rõ nhất, thấy rõ nhất, đó là nhờ nghề mà họ xoá được đói, giảm được nghèo và hơn nữa là đã có của ăn của để. Ông Tiễn hồ hởi: “Nghề ni tuy phụ nhưng lại là chính đây cô. Cũng nhờ nghề mà cái làng này mới có bộ mặt như hôm nay. Mà đó cô xem, làng chỉ còn vài cái nhà tranh còn đâu là nhà mái ngói, nhà mái bằng cả. Như gia đình tôi một thời khó khăn lắm, bây giờ cũng đầy đủ rồi. Thì đó công nông, xe máy, ti vi... đầy đủ đấy chứ!”.
Sở dĩ người dân Thọ Đơn xem đây là nguồn thu nhập chính, bởi thiên nhiên đã không mấy ưu đãi cho vùng đất này. Tuy là vùng đồng bằng, nhưng bị nhiễm mặn, nên sản lượng lương thực thấp, chỉ thu được 1 vụ lúa/năm. Vào những năm 80 của thế kỷ trước, khi nghề đan của làng bị mai một, nhiều hộ đã bỏ làng, bỏ nghề mà tha phương, người ở lại thì chung cảnh nghèo đói... Từ khi có cơ chế mở, giao thương thông thoáng, người dân Thọ Đơn có điều kiện để trở lại và gắn bó với nghề. Hiện nay, cả làng có trên 530 hộ (với khoảng 3.000 nhân khẩu) thì số hộ theo nghề đan lát đã là hơn 500. Cũng nhờ nghề đan, những năm qua đã có hàng trăm hộ thoát khỏi đói nghèo, vươn lên làm giầu. Ngay những gia đình nghèo khó nhất làng, nhất xã cũng có được những cơ hội đổi đời. Chỉ cho chúng tôi ngôi nhà mái ngói mới tinh, khang trang, anh cán bộ xã cho biết, đó đã từng là hộ đói nhất xã. Chị Nguyễn Thị Thuận, chủ nhà tự hào nói “Nhà ni tôi xây xong cuối năm ngoái, tổng chi phí hết 32 triệu. Nói thật với cô, ngày mới về làm dâu tôi lo lắm. Cả nhà không có một chỗ lành lặn che nắng che mưa, đói rét quanh năm. Tôi nghĩ làng có nghề răng mình không học ... rứa là tôi quyết tâm học nghề. Nhìn người ta bắt cấy, tôi bắt cấy, đan cấy tôi cũng đan cấy. Lần lần, rứa mà làm nên cơ đồ ni đây. Con cái được đi học cũng nhờ nghề đan ni đây, chứ không thì lấy mô ra...”. Mặc dù nghề đan ở Thọ Đơn không mang lại thu nhập thật cao, song cũng đem lại thu nhập trung bình 1 triệu-1,5 triệu đồng/hộ/tháng. Như vợ chồng chị Thuận, tính bình quân thu nhập cũng được gần 100 ngàn đồng/ ngày. Bây giờ chuyện cái ăn, cái mặc không còn là vấn đề với họ nữa.
Hiện nay, các sản phẩm đan tre của Thọ Đơn như thúng, rổ, rá, nong, nia, thúng bơi...  không chỉ thu hẹp ở thị trường nội tỉnh mà đã vươn ra các tỉnh bạn như: HàTĩnh, Quảng Trị, Vũng Tàu, TP.HCM, Gia Lai ... Xác định đây là nghề để xóa đói, giảm nghèo và cũng là thế mạnh để xã phát triển kinh tế, thời gian qua, xã Quảng Thọ mở nhiều lớp tập huấn, tham quan các mô hình tỉnh bạn, giúp người dân học hỏi kinh nghiệm. Tuy nhiên, cũng như các làng nghề truyền thống khác, Thọ Đơn đang gặp phải không ít khó khăn, đặc biệt là đầu ra cho các sản phẩm của làng. Về vấn đề này ông Nguyễn Ngọc Lâm- Chủ tịch UBND xã cho biết “Nghề đan của chúng tôi vẫn còn nhiều hạn chế lắm, đặc biệt là đầu ra.  Vừa rồi chúng tôi có trao đổi với Huyện để tìm giải pháp tiêu thụ sản phẩm. Nhưng suy cho cùng, cái hướng lâu dài vẫn là phải thay đổi chính mình. Có lẽ đã đến lúc không đơn thuần chỉ sản xuất những mặt hàng dành cho nông nghiệp mà cần xem với cái “nền” đó có “nâng” lên được thành làng sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ hay không? Có như vậy mới nói là lâu dài và nó cũng mới ra tấm ra món được. Tuy nhiên, vấn đề này lại quá tầm tay của xã, của huyện. Chúng tôi mong...”
Có được một nghề mang lại thu nhập là mong ước khó trở thành hiện thực của nhiều làng quê. Đối với Thọ Đơn, cái nền của nghề đan tre đã thật vững chắc khi nó gắn với từng số phận, từng con người nơi đây. Bởi ngoài yếu tố kinh tế thì nó còn cái là hồn, cái cốt của làng quê mà những người tâm huyết với nghề muốn giữ gìn cho muôn đời. Vì vậy, sẽ là dễ dàng hơn bội phần, nếu như có được sự đầu tư của chính quyền địa phương để phát triển nơi đây thành một làng sản xuất đồ tre mỹ nghệ, mở ra cho làng, cho xã một hướng đi mới. Và tôi tin, khi tỉnh Quảng Bình chọn Chương trình phát triển tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn là một trong 4 chương trình trọng điểm của tỉnh thì chắc chắn sẽ có nhiều làng nghề, nhiều ngành nghề nông thôn được chú trọng đầu tư phát triển. Và Thọ Đơn cũng có quyền được hy vọng lắm chứ!.

  • Tags: