Liên kết ngành: Sự cần thiết để tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong các làng nghề truyền thống ở Việt Nam

Cơ sở lý thuyết về liên kết ngành Theo quan điểm của Porter, một khối liên kết ngành là một nhóm trong cùng một khu vực địa lý bao gồm các công ty và các cơ quan được liên kết với nhau bởi sự đồng th

 

Lợi thế của khối liên kết ngành
Theo Porter, khối liên kết ngành sẽ có tác động đến cạnh tranh theo ba hướng sau: năng suất, sự đổi mới và việc thành lập các doanh nghiệp mới.
Trước tiên, khối liên kết ngành sẽ làm tăng năng suất của các hãng và ngành, bởi nó tạo ra sự tiếp cận tốt hơn các sản phẩm đầu vào và lao động; thông tin về thị trường và công nghệ; thúc đẩy sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên của ngành; sử dụng các hàng hoá và dịch vụ công cộng như cơ sở hạ tầng, chương trình đào tạo và triển lãm hội chợ; cải thiện các hoạt động và khuyến khích công ty đạt được năng suất cao; tạo ra sự dễ dàng cho việc đo lường và đánh giá hoạt động của các công ty bởi vì họ thực hiện những chức năng giống nhau.
Thứ hai, khối liên kết ngành sẽ tạo ra lợi thế tiềm năng cho các thành viên trong việc đổi mới. Các công ty sẽ mau chóng nắm bắt được nhu cầu mới của khách hàng, các khả năng về công nghệ và hoạt động mới; tìm kiếm được các máy móc, dịch vụ và sản phẩm đầu vào mới; đối mặt với áp lực cạnh tranh hoàn hảo, đòi hỏi họ phải luôn đổi mới.
Cuối cùng, khối liên kết ngành sẽ tạo ra nhiều doanh nghiệp mới hơn bởi vì các rào cản xâm nhập vào ngành sẽ bị giảm đi và sẽ có nhiều thông tin về các cơ hội kinh doanh hơn.
Các nhân tố góp phần phát triển khối liên kết ngành
Porter chỉ ra rằng, về cơ bản có sáu nhân tố đóng góp vào sự phát triển của khối liên kết ngành đó là: Các điều kiện về yếu tố; Các điều kiện về nhu cầu; Chiến lược, cấu trúc công ty và sự cạnh tranh; Các ngành hỗ trợ và liên quan; Chính phủ; Những tác động của môi trường bên ngoài (cơ hội và thách thức).
Các điều kiện yếu tố: Sự phát triển của khối liên kết ngành phụ thuộc vào sự hiện diện của các yếu tố như nguồn nhân lực, nguồn lực vật chất, nguồn lực tri thức, nguồn vốn và cơ sở hạ tầng
Các điều kiện nhu cầu: Khối liên kết ngành có thể phát triển ở những nơi mà sự xuất hiện của các khách hàng chủ yếu ở đây có thể khuyến khích sự phát triển và thúc đẩy lợi thế cạnh tranh giữa các nhà cung cấp
Chiến lược, cấu trúc công ty và sự cạnh tranh: Khối liên kết ngành chủ yếu dựa vào sự liên kết giữa các công ty. Do đó, các chiến lược sản xuất, thu mua, marketing và thái độ của các hãng đối với sự hợp tác và cạnh tranh sẽ đóng vai trò quan trọng tác động đến sự phát triển của khối liên kết ngành.
Các ngành hỗ trợ và liên quan: Sự gần gũi của nhà cung cấp và các hãng hỗ trợ khác có thể giúp cho việc đổi mới và cắt giảm chi phí giao dịch.
Chính phủ: Chính phủ có thể tác động đến sự phát triển của khối liên kết ngành thông qua phân bổ các nguồn vốn cho đầu tư cơ sở hạ tầng, nghiên cứu và triển khai, chính sách đối với việc sử dụng đất đai...
Tác động của môi trường bên ngoài: Những thay đổi của môi trường bên ngoài như sự biến động của tỷ giá hối đoái, quyết định chính sách của chính phủ nước ngoài, chiến tranh... có thể ảnh hưởng đến các nhân tố ở trên, do đó nó cũng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của khối liên kết ngành.
DNNVV ở Việt Nam
Kể từ năm 1986, Việt Nam đã trải qua một quá trình chuyển đổi kinh tế mang tính chất căn bản. Một trong những nhân tố quan trọng của sự chuyển đổi này là sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân mà phần lớn là các DNNVV. Hiện nay, cả nước có khoảng hơn 100.000 DNNVV. Có thể nói, lực lượng này đã đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của nền kinh tế trong gần 20 năm qua. Các doanh nghiệp này đã và đang tạo ra một số lượng lớn công ăn việc làm cho người lao động, thúc đẩy sự phát triển kinh tế đa dạng, đóng góp đáng kể vào các hoạt động xuất nhập khẩu. Thêm vào đó, các DNNVV còn là một lực lượng tiên phong trong quá trình đổi mới, thích ứng một cách nhạnh bén với sự thay đổi của môi trường, làm động lực chính cho sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta.
Tuy nhiên, các DNNVV ở Việt Nam cũng đang gặp phải rất nhiều khó khăn. Đó là:
- Thiếu vốn cho sản xuất kinh doanh.
- Thiếu các địa điểm và mặt bằng để mở rộng hoạt động kinh doanh
- Thiếu thông tin về thị trường và các vấn đề luật pháp.
- Trình độ công nghệ và các kỹ năng quản lý công nghệ còn yếu kém.
- Sự hợp tác giữa các DNVVN Việt Nam chưa thực sự tốt.
Các làng nghề truyền thống ở Việt Nam
ở Việt Nam hiện nay có khoảng 1450 làng nghề truyền thống với hơn 40.000 DNVVN, trong đó 80% là thuộc thành phần kinh tế tư nhân. Các làng nghề truyền thống hiện nay đã và đang được phát triển thành những trung tâm sản xuất quan trọng, đóng góp đáng kể vào nền kinh tế quốc gia (giá trị sản xuất của các làng nghề những năm vừa qua trung bình đã đạt khoảng 2,6tỷ USD/năm, tạo ra nhiều công ăn việc làm và đã góp phần tái cơ cấu các hoạt động sản xuất nông nghiệp của Việt Nam). Sản phẩm từ những làng nghề này hiện đã tham gia vào quá trình hội nhập và đang là những sản phẩm có tính cạnh tranh so với các đối thủ nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống trên thế giới. Sự phát triển của những làng nghề này và sự thành công của các sản phẩm thủ công mỹ nghệ trên trường quốc tế đã mở ra một hướng mới cho Việt Nam trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong tiến trình toàn cầu hoá kinh tế.
Trước sức ép của quá trình hội nhập và toàn cầu hoá, các làng nghề truyền thống đang bị buộc phải chuyển từ sản xuất thủ công nhỏ lẻ sang hướng sản xuất tập trung mang tính chất công nghiệp; chuyển từ chỗ chỉ khép kín trong phạm vi vùng, miền và quốc gia sang phục vụ thị trường quốc tế. Trong bối cảnh đó, các DNVVN ở khu vực này đang là những mắt xích quan trọng, kết nối hoạt động sản xuất của các làng nghề với thế giới bên ngoài. Việc những làng nghề này có khả năng tồn tại và phát triển hay không phụ thuộc chủ yếu vào khả năng kết nối này. Hơn nữa, việc duy trì và phát triển các làng nghề trong quá trình hội nhập không chỉ mang ý nghĩa về mặt kinh tế, mà nó còn đem lại những giá trị to lớn về mặt tinh thần, đó là sự bảo tồn và phát triển các nét văn hoá truyền thống của Việt Nam.
Giải pháp thúc đẩy phát triển khối liên kết ngành trong các làng nghề truyền thống ở Việt Nam
Để có thể nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, lý thuyết về khối liên kết ngành có thể được áp dụng ở Việt Nam. Theo như khái niệm về khối liên kết ngành của Porter, các khối liên kết tiềm năng có thể được tìm thấy trong các làng nghề truyền thống của Việt Nam. Mỗi một làng nghề đều bao gồm tập hợp các doanh nghiệp có sự liên kết với nhau (các doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp thương mại, doanh nghiệp cung ứng các sản phẩm đầu vào..). Với bề dày về lịch sử văn hoá và sản xuất truyền thống, những làng nghề này có thể được xem như là các hạt nhân cho sự phát triển của khối liên kết ngành. Tuy nhiên, những làng nghề vẫn còn thiếu một số yếu tố cơ bản để có thể phát triển thành khối liên kết ngành. Những yếu tố này là: các nguồn lực về vốn, cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin và quản lý, cơ sở về công nghệ và khoa học, sự hợp tác giữa các doanh nghiệp, sự phát triển của các ngành có liên quan, và các chính sách thích hợp của chính phủ.
Lý thuyết về khối liên kết ngành gợi ý rằng, để có thể phát triển những hạt nhân này thành khối liên kết, cần phải có sự nỗ lực từ cả hai phía: Nhà nước và tư nhân, nhằm xoá bỏ các rào cản đối với sự phát triển của khối liên kết ngành. Trong trường hợp của Việt Nam, các nỗ lực của chính phủ, nên tập trung vào: xây dựng chiến lược, quy hoạch đối với sự phát triển của các làng nghề truyền thống; hỗ trợ các DNVVN trong các làng nghề thông qua xây dựng cơ chế tài chính đơn giản và thuận tiện; hỗ trợ các DNVVN giới thiệu các sản phẩm của họ thông qua hội trợ, triển lãm, internet và các ấn phẩm; đầu tư cải tiến cơ sở hạ tầng trong các làng nghề; đầu tư nghiên cứu triển khai và hệ thống thông tin; xây dựng hoàn thiện hệ thống luật pháp để các doanh nghiệp có thể tham gia cạnh tranh một cách bình đẳng; khuyến khích sự phát triển của các ngành có liên quan như ngành du lịch, ngành giao thông vận tải.. Đối với các DNVVN trong các làng nghề truyền thống, các nỗ lực của họ nên tập trung vào: xây dựng các kế hoạch chiến lược cho hoạt động kinh doanh bao gồm kế hoạch marketing, kế hoạch nguồn nhân lực, kế hoạch tài chính. Các doanh nghiệp này không nên chỉ dựa vào những nguồn lực dồi dào sẵn có ở địa phương mà phản ứng thụ động trước những yêu cầu của thị trường. Trong dài hạn, giá nguyên vật liệu đầu vào và lao động rẻ có thể không còn là lợi thế cạnh tranh của Việt Nam so với các quốc gia trong khu vực. Tại thời điểm này, giá các sản phẩm của Việt Nam luôn cao hơn 15% so với sản phẩm của Trung Quốc, cao hơn 10% sản phẩm của các nước Đông Nam á. Do đó, các DNVVN Việt Nam cần phải tạo ra cho mình những lợi thế cạnh tranh mới bằng cách hợp tác với nhau, thông qua các hiệp hội và mạng lưới kinh doanh. Thêm vào đó, như đã đề cập ở trên, sản phẩm của các làng nghề truyền thống luôn có mối liên hệ chặt chẽ với yều tố văn hoá. Do đó, các giá trị về mặt văn hoá có thể đem lại lợi thế cạnh tranh cho các sản phẩm này. Để có thể thúc đẩy lợi thế cạnh tranh này, sự hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức của chính phủ, các doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đào tạo và người dân sống trong khu vực này là rất cần thiết. Trong trường hợp của Việt Nam, ngoài những nhân tố đề cập đến trong lý thuyết về liên kết ngành của Porter, nhân tố con người (thể hiện ở thái độ, tập quán, và các hoạt động của họ) đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng cao lợi thế cạnh tranh quốc gia (lợi thế cạnh tranh về mặt văn hoá). Do 80% dân số Việt Nam sống trong khu vực nông thôn, nên thông qua các hoạt động của họ như lễ hội văn hoá, các giá trị về mặt văn hoá của sản phẩm truyền thống sẽ được nâng cao, kết quả là lợi thế cạnh tranh quốc gia cũng sẽ được nâng cao.
Nói tóm lại, trong quá trình toàn cầu hoá và quốc tế hoá, các lợi thế cạnh tranh hiện tại của Việt Nam như giá lao động và nguyên vật liệu rẻ có thể sẽ bị xói mòn. Bởi vậy, việc tạo ra các lợi thế cạnh tranh mới đang là nhu cầu cấp thiết đối với Việt Nam. Mô hình phát triển khối liên kết ngành của Porter có thể là giải pháp tối ưu cho Việt Nam đối với sự  phát triển DNVVN trong các làng nghề truyền thống trong giai đoạn này nhằm tạo ra các lợi thế cạnh tranh mới cho Việt Nam. Tuy nhiên, do điều kiện môi trường văn hoá đặc biệt trong các làng nghề này ở Việt Nam, mô hình của Porter nên được điều chỉnh bằng cách thêm yếu tố về văn hoá. Khi đó mô hình này sẽ thực sự giúp ích cho Việt Nam trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tài liệu tham khảo
Brel Media, 2002, Small and Medium Enterprise in Vietnam.
Harvie C, 2001, Competition policy and SMEs in Vietnam.
Porter, M.E, 2000, Location, competition, and economic development: local clusters in a global economy.
Porter, M.E, 1998, Clusters and the new economics of competition.
Porter, M.E, 1998, The competitive advantage of nations.
Porter, M.E, 1998, The Adam Smith address: location, clusters, and the “new” micro-economics of competion.

  • Tags: