Bộ Công Thương: 100 ngày đêm xử lý các điểm nghẽn trong chuyển đổi số
21/09/2026 lúc 17:44 (GMT)

Bộ Công Thương: 100 ngày đêm xử lý các điểm nghẽn trong chuyển đổi số

Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số đang đặt Bộ Công Thương trước một yêu cầu mới: Chuyển từ tổ chức thực hiện theo chương trình sang quản trị bằng nhiệm vụ, dữ liệu và kết quả đầu ra. Trọng tâm không chỉ là hoàn thành những việc đã được giao, mà phải xử lý dứt điểm các nút thắt về thể chế, dữ liệu, hạ tầng, nhân lực và cơ chế phối hợp để chuyển đổi số trở thành năng lực vận hành của toàn ngành.

Ngày 20/7/2026, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 1823/QĐ-BCT về Kế hoạch bổ sung nhiệm vụ thực hiện Kết luận của Tổng Bí thư, Thủ tướng Chính phủ và Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị.

Bộ Công Thương

Điểm đáng chú ý của kế hoạch nằm ở yêu cầu “siết chặt kỷ luật thực thi”. Các nhiệm vụ phải được rà soát, phân công, xác định sản phẩm và thời hạn; trách nhiệm của cơ quan chủ trì gắn với trách nhiệm người đứng đầu; những vấn đề thuộc thẩm quyền phải được giải quyết chủ động, những vấn đề vượt thẩm quyền phải được báo cáo, đề xuất kịp thời.

Đây là cách tiếp cận phù hợp với giai đoạn phát triển mới của chuyển đổi số: từ xây dựng nền tảng sang khai thác năng lực của nền tảng; từ số hóa quy trình sang tái cấu trúc phương thức quản trị; từ hoàn thành đầu việc sang đo lường bằng sản phẩm, dữ liệu và tác động.

Trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, Bộ Công Thương xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên của toàn ngành, không phải nhiệm vụ riêng của cơ quan chuyên môn. Vì vậy, yêu cầu “6 rõ” trong kế hoạch 100 ngày cần được nhìn nhận như một nguyên tắc thực hiện: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm và rõ thẩm quyền.

Giá trị của nguyên tắc này nằm ở việc thiết lập một chuỗi trách nhiệm khép kín từ quyết định đến kết quả. Trong một hệ thống có nhiều đầu mối quản lý, phối hợp liên ngành và liên cấp, điểm nghẽn thường không chỉ xuất phát từ thiếu công nghệ, mà còn từ sự phân tán trách nhiệm, thiếu đồng bộ dữ liệu, quy trình chưa thống nhất hoặc những vấn đề không được xác định rõ cơ quan có thẩm quyền xử lý. Kế hoạch 100 ngày vì vậy đặt người đứng đầu vào vị trí chịu trách nhiệm trực tiếp về tiến độ và chất lượng nhiệm vụ thuộc phạm vi phụ trách. Cách tiếp cận này tạo áp lực cần thiết để chuyển từ cơ chế “phối hợp thực hiện” sang “chịu trách nhiệm về kết quả”.

Các Thứ trưởng phụ trách lĩnh vực chịu trách nhiệm thường xuyên chỉ đạo, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp, viện, trường và các đơn vị liên quan. Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công là đầu mối đôn đốc, tổng hợp; phối hợp với Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, Văn phòng Bộ bảo đảm toàn bộ nhiệm vụ được theo dõi, giám sát trên hệ thống số.

Cấu trúc này cho thấy một chuyển biến quan trọng trong phương thức điều hành: nhiệm vụ chuyển đổi số được quản trị bằng chính các công cụ số. Tiến độ không chỉ nằm trong báo cáo định kỳ mà được cập nhật, theo dõi và đánh giá trên hệ thống; phản ánh, kiến nghị, sáng kiến cũng được tiếp nhận và xử lý qua các nền tảng tương ứng.

Bộ Công Thương
Bộ Công Thương
Diễn đàn Chuyển đổi số 2025 ngành Công Thương 
Bộ Công Thương

Sau hơn 1,5 năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, Bộ Công Thương đã hoàn thành 178/287 nhiệm vụ, 10 nhiệm vụ đang thực hiện đúng hạn và 99 nhiệm vụ thường xuyên; không có nhiệm vụ quá hạn chưa hoàn thành.

Đáng chú ý hơn, con số hoàn thành là phương thức quản lý nhiệm vụ đã được chuẩn hóa: mỗi nhiệm vụ được rà soát, xác định cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, sản phẩm đầu ra và thời hạn hoàn thành.

Đây là nền tảng để bước vào giai đoạn 100 ngày với một yêu cầu cao hơn: đo lường hiệu quả bằng sản phẩm và dữ liệu thay vì chỉ bằng tỷ lệ hoàn thành đầu việc.

Những kết quả về cải cách thể chế, thủ tục hành chính và dịch vụ công cho thấy quá trình này đã tạo ra những thay đổi cụ thể.

Bộ Công Thương
Bộ Công Thương
Bộ Công Thương xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên của toàn ngành, không phải nhiệm vụ riêng của cơ quan chuyên môn. 

Những con số này cho thấy chuyển đổi số đang dịch chuyển từ phạm vi ứng dụng công nghệ sang tái cấu trúc năng lực quản lý dựa trên dữ liệu.

Dữ liệu càng được chuẩn hóa, kết nối và chia sẻ, khả năng ra quyết định dựa trên bằng chứng càng được nâng lên. Khi dịch vụ công được tích hợp, quy trình hành chính được đơn giản hóa và phân cấp mạnh hơn, giá trị của chuyển đổi số cũng được thể hiện trực tiếp qua chi phí, thời gian và chất lượng phục vụ.

Đây chính là tiêu chí quan trọng để đánh giá giai đoạn tiếp theo: không phải có thêm bao nhiêu hệ thống, mà những hệ thống hiện có tạo ra bao nhiêu giá trị quản trị.

Bộ Công Thươg
Bộ Công Thương

Nếu xử lý điểm nghẽn là yêu cầu trước mắt của 100 ngày, thì tạo năng lực phát triển mới mới là mục tiêu dài hạn của chuyển đổi số ngành Công Thương.

Bộ đã xác định ba bài toán lớn về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo: Bảo đảm an ninh năng lượng; tự chủ công nghiệp, nâng cao nội địa hóa và chuỗi giá trị; hiện đại hóa thương mại bằng dữ liệu, logistics thông minh và chuỗi cung ứng tin cậy.

Cách xác định này cho thấy chuyển đổi số đang được đặt trong cấu trúc phát triển của ngành, thay vì tồn tại như một chương trình công nghệ độc lập.

Trong lĩnh vực năng lượng, dữ liệu và công nghệ có thể trở thành nền tảng nâng cao năng lực quản lý, dự báo và điều hành. Trong công nghiệp, công nghệ và dữ liệu phải phục vụ năng lực sản xuất, nội địa hóa và kết nối chuỗi giá trị. Trong thương mại, dữ liệu, logistics và nền tảng số là những cấu phần ngày càng quan trọng của năng lực cạnh tranh.

Vì vậy, thước đo cuối cùng của chuyển đổi số không nằm ở số lượng phần mềm hay nền tảng được triển khai, mà ở khả năng tạo ra một phương thức vận hành hiệu quả hơn và một năng lực cạnh tranh mới.

Bộ Công Thương
Chuyển đổi số đang diễn ra rất mạnh mẽ trong nội tại doanh nghiệp công nghiệp, đặc biệt là sản xuất thép.

Sự chuyển dịch này đã bắt đầu xuất hiện trong các doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường học thuộc ngành Công Thương. Từ ứng dụng công nghệ thông tin đơn lẻ, các đơn vị đang hướng tới xây dựng danh mục công nghệ và sản phẩm chiến lược gắn với vận hành, sản xuất, thị trường và hiệu quả kinh tế.

Nguồn nhân lực cũng đang được điều chỉnh theo yêu cầu đó. Tỷ lệ cán bộ, công chức được bồi dưỡng kỹ năng số cơ bản đạt 100%; phong trào “bình dân học vụ số” được gắn với AI, dữ liệu lớn và tự động hóa công vụ. Hệ thống viện, trường bước đầu chuyển dịch đào tạo sang bán dẫn, AI, năng lượng xanh, logistics và các ngành công nghệ lõi.

Như vậy, điểm nghẽn của chuyển đổi số không chỉ nằm ở công nghệ. Nó nằm đồng thời ở thể chế, dữ liệu, nhân lực, nguồn lực và phương thức tổ chức thực hiện. Kế hoạch 100 ngày của Bộ Công Thương đang tiếp cận bài toán theo hướng đó: xử lý đồng thời các mắt xích thay vì giải quyết từng vấn đề biệt lập.

Cùng với việc phân công nhiệm vụ, Bộ yêu cầu các đơn vị chủ động rà soát, tháo gỡ vướng mắc về cơ chế, chính sách; nghiên cứu đề xuất cơ chế thí điểm đặc thù khi cần thiết và chủ động bố trí nguồn lực.

Đây là điều kiện để chuyển từ một chương trình chuyển đổi số mang tính hành chính sang một quá trình tái cấu trúc năng lực quản trị và phát triển.

Bộ Công Thương

Kế hoạch 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số vì thế cần được nhìn nhận như một phép thử đối với năng lực thực thi chính sách của Bộ Công Thương.

Sau hơn 1,5 năm triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, nền tảng về thể chế, dữ liệu, dịch vụ công, nhân lực và cơ chế quản lý nhiệm vụ đã được hình thành. Giai đoạn tiếp theo đòi hỏi những nền tảng đó phải được chuyển hóa thành năng lực vận hành và giá trị phát triển cụ thể.

“6 rõ” tạo kỷ luật thực thi. Hệ thống theo dõi tạo khả năng giám sát bằng dữ liệu. Cải cách thể chế tháo gỡ rào cản. Hạ tầng và dữ liệu tạo nền tảng. Còn doanh nghiệp, viện, trường và nguồn nhân lực quyết định khả năng đưa công nghệ vào thực tiễn.

Nếu xử lý tốt các điểm nghẽn trong 100 ngày, giá trị lớn nhất không chỉ là hoàn thành một danh mục nhiệm vụ được giao. Đó là tạo ra một phương thức quản trị có khả năng nhìn thấy vấn đề bằng dữ liệu, xác định đúng trách nhiệm, phản ứng nhanh hơn trước điểm nghẽn và đo lường kết quả bằng sản phẩm thực tế. Đó cũng là bước chuyển căn bản để chuyển đổi số ngành Công Thương đi từ một chương trình hành động sang một năng lực phát triển dài hạn.

Bộ Công Thương

Chuyển đổi số ngành Công Thương đi từ một chương trình hành động sang một năng lực phát triển dài hạn.

Bài: Hoàng Quân
Ảnh: HQ
Thiết kế: Hoàng Linh