[Emagazine] Bài toán năng lượng và động lực tăng trưởng kinh tế
22/08/2026 lúc 17:48 (GMT)

[Emagazine] Bài toán năng lượng và động lực tăng trưởng kinh tế

 

 

Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng tiếp tục gia tăng cùng yêu cầu tăng trưởng kinh tế ở mức cao, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả ngày càng được nhìn nhận như một yếu tố của năng suất, đổi mới công nghệ và năng lực cạnh tranh; đồng thời, hệ thống thể chế đang từng bước được hoàn thiện nhằm chuyển tiềm năng tiết kiệm năng lượng thành nguồn lực cho phát triển.

chuyển đổi xanh
năng lượng

Năm 2026, Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao, kéo theo nhu cầu năng lượng cho sản xuất, kinh doanh và đời sống tiếp tục gia tăng. Trong khi đó, thị trường năng lượng thế giới còn tiềm ẩn nhiều biến động, các rủi ro về nguồn cung và giá nhiên liệu tiếp tục đặt ra yêu cầu cao đối với việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Thực tế vận hành hệ thống điện cho thấy rõ áp lực từ nhu cầu năng lượng gia tăng.

Tại Hội nghị rà soát tình hình cung ứng điện và công tác chuẩn bị vận hành hệ thống điện năm 2027 diễn ra cuối tháng 7/2026, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cho biết, trong 7 tháng đầu năm 2026, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống ước đạt hơn 203,3 tỷ kWh, tăng khoảng 9,3% so với cùng kỳ năm trước. Công suất cực đại của hệ thống đã đạt 58.456 MW, trong khi sản lượng điện tiêu thụ ngày cao nhất lên tới khoảng 1,22 tỷ kWh.

Hội nghị rà soát tình hình cung ứng điện các tháng cuối năm 2026 và công tác xây dựng kế hoạch điều hành hệ thống điện năm 2027
Hội nghị rà soát tình hình cung ứng điện các tháng cuối năm 2026 và công tác xây dựng kế hoạch điều hành hệ thống điện năm 2027

Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng chủ trì Hội nghị rà soát tình hình cung ứng điện các tháng cuối năm 2026 và công tác xây dựng kế hoạch điều hành hệ thống điện năm 2027 diễn ra cuối tháng 7/2026

Theo Bộ trưởng, để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026, sản lượng điện trong những tháng cuối năm phải tăng khoảng 11,7-11,9%. Điều này đặt ra yêu cầu rất lớn đối với công tác bảo đảm cung ứng điện, từ chuẩn bị nguồn điện, nhiên liệu đến vận hành hệ thống và đẩy nhanh tiến độ các dự án nguồn, lưới điện.

Cùng với yêu cầu bảo đảm đủ nguồn cung, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả tiếp tục được xác định là một trong những giải pháp quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng cho phát triển kinh tế - xã hội, giảm áp lực lên hệ thống năng lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Yêu cầu này được thể hiện rõ tại Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 19/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thực hiện tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và phát triển giao thông xanh. Chỉ thị đặt mục tiêu đến năm 2030 giảm tiêu hao năng lượng tính trên đơn vị GDP từ 1-1,5%/năm; tiết kiệm điện tối thiểu 3%/năm đối với các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm; giảm điện năng dùng cho truyền tải và phân phối trên toàn hệ thống xuống 5,8%. Đồng thời, 100% cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm phải thực hiện kiểm toán năng lượng định kỳ và áp dụng hệ thống quản lý năng lượng theo quy định.

info 1

Đáng chú ý, Chỉ thị 09 đặt sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong mối quan hệ trực tiếp với giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và phát triển bền vững. Theo đó, tiết kiệm năng lượng không chỉ được đặt ra ở khâu tiêu dùng cuối cùng mà gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả trong quá trình sản xuất, truyền tải, phân phối và sử dụng năng lượng.

Đối với các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm, Chỉ thị yêu cầu xây dựng kế hoạch đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị hiệu suất cao, tối ưu hóa hệ thống sản xuất và ứng dụng công nghệ số trong quản lý năng lượng. Các giải pháp được tập trung vào những ngành tiêu thụ nhiều năng lượng như thép, xi măng, hóa chất, giấy và bột giấy, bia và nước giải khát, nhựa, dệt may, chế biến thực phẩm...

tiết kiệm năng lượng

Cách tiếp cận này cho thấy yêu cầu tiết kiệm năng lượng đang ngày càng gắn chặt với đổi mới công nghệ và nâng cao hiệu quả sản xuất. Thay vì chỉ hướng tới giảm một lượng điện hay nhiên liệu tiêu thụ, các giải pháp được đặt trong toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất, lựa chọn công nghệ, thiết bị và quản lý năng lượng tại doanh nghiệp.

Sự thay đổi đó diễn ra trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, trong khi nhu cầu năng lượng tiếp tục gia tăng và các yêu cầu về phát triển bền vững, giảm phát thải, nâng cao năng lực cạnh tranh ngày càng trở nên cấp thiết. Nếu như việc mở rộng nguồn cung năng lượng là điều kiện cần để đáp ứng nhu cầu phát triển, thì nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng được xem là một trong những giải pháp quan trọng nhằm sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực hiện có của nền kinh tế.

Đây cũng là điểm đáng chú ý trong các định hướng chính sách gần đây. Từ chủ trương của Đảng, chỉ đạo của Chính phủ đến các chương trình hành động của Bộ Công Thương, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả ngày càng được đặt trong mối quan hệ với năng suất, chất lượng tăng trưởng, đổi mới công nghệ và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

tiết kiệm

Nói cách khác, hơn cả một giải pháp kỹ thuật đơn thuần, hiệu quả năng lượng đang trở thành một nội dung của chiến lược phát triển, là một phần của quá trình đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, giảm chi phí và cải thiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế.

Có thể thấy, lần đầu tiên, các mục tiêu về hiệu quả năng lượng được đặt trong một hệ thống chính sách tương đối đồng bộ, từ định hướng của Chính phủ tại Chỉ thị 09/CT-TTg, khuôn khổ pháp lý được hoàn thiện thông qua Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả sửa đổi năm 2025, đến chương trình hành động của cơ quan quản lý chuyên ngành. Điều này cho thấy cách tiếp cận đối với sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đang từng bước chuyển từ các hoạt động khuyến khích, vận động sang việc hình thành các công cụ về thể chế, thị trường và đổi mới công nghệ để thúc đẩy đầu tư và tạo ra những thay đổi thực chất trong sản xuất và tiêu dùng năng lượng.

năng lượng

Việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đang tạo thêm cơ sở để chuyển các mục tiêu tiết kiệm năng lượng thành những giải pháp cụ thể trong thực tiễn.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được Quốc hội thông qua năm 2025 đã bổ sung, hoàn thiện nhiều quy định liên quan đến quản lý nhà nước, cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm, kiểm toán năng lượng, phát triển nguồn nhân lực, dịch vụ năng lượng và các cơ chế hỗ trợ cho hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

năng lượng

Theo PGS.TS Phạm Hoàng Lương - Giảng viên cao cấp Đại học Bách khoa Hà Nội, Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam, một trong những điểm mới đáng chú ý là loại hình công ty dịch vụ năng lượng (ESCO) lần đầu tiên được chính thức hóa trong Luật, tạo cơ sở pháp lý để phát triển các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ năng lượng và thúc đẩy triển khai các dự án tiết kiệm năng lượng.

Bên cạnh đó, Luật cũng có những thay đổi liên quan đến đào tạo người quản lý năng lượng, kiểm toán viên năng lượng và các cơ chế hỗ trợ đầu tư cho sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Trong bài viết “Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh doanh nghiệp phải được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình chuyển đổi, bởi đây là chủ thể trực tiếp đổi mới công nghệ, tổ chức lại chuỗi cung ứng, tạo việc làm xanh và đáp ứng các tiêu chuẩn mới của thị trường.

Nhìn từ góc độ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, vai trò trung tâm của doanh nghiệp cũng được thể hiện rất rõ. Các mục tiêu về giảm tiêu hao năng lượng, giảm phát thải hay nâng cao hiệu suất sử dụng tài nguyên cuối cùng đều được hiện thực hóa thông qua quyết định đầu tư, lựa chọn công nghệ và phương thức quản trị của doanh nghiệp.

doanh nghiệp
doanh nghiệp
doanh nghiệp

Những nội dung mới tại Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả 2025 có ý nghĩa đặc biệt khi hướng tới giải quyết một vấn đề đã tồn tại nhiều năm của chính cộng đồng doanh nghiệp: khoảng cách giữa tiềm năng tiết kiệm năng lượng và khả năng biến tiềm năng đó thành một dự án đầu tư thực tế. Rõ ràng, không phải mọi cơ hội tiết kiệm đều có thể tự động chuyển thành các dự án đầu tư.

Theo các nghiên cứu và đánh giá của Bộ Công Thương trong nhiều năm qua, tiềm năng tiết kiệm năng lượng trong các ngành công nghiệp trọng điểm của Việt Nam vẫn còn rất lớn, đặc biệt ở các lĩnh vực như thép, xi măng, hóa chất, dệt may, chế biến thực phẩm... Tuy nhiên, tiềm năng này chưa được khai thác tương xứng. Khoảng cách giữa cơ hội tiết kiệm năng lượng và khả năng hiện thực hóa thành các dự án đầu tư vẫn là một trong những thách thức lớn trong quá trình triển khai sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Thực tế, một doanh nghiệp có thể nhận diện được thiết bị cần thay thế hoặc dây chuyền có thể tối ưu, nhưng quyết định đầu tư còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: giải pháp công nghệ có phù hợp hay không, hiệu quả tiết kiệm có đủ lớn, thời gian hoàn vốn bao lâu và nguồn lực tài chính được thu xếp như thế nào. Chính vì vậy, bên cạnh các yêu cầu mang tính bắt buộc, việc hình thành thị trường dịch vụ năng lượng, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng các cơ chế hỗ trợ đầu tư có vai trò quan trọng trong việc đưa chính sách vào thực tiễn.

Phạm Hoàng Lương

Đây cũng là một trong những trọng tâm thể hiện tại Kế hoạch hành động của Bộ Công Thương thực hiện Chỉ thị 09, ban hành kèm Quyết định số 824/QĐ-BCT. Kế hoạch xác định nhiều nhiệm vụ liên quan đến hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn về hiệu suất năng lượng; định mức tiêu hao; kiểm toán và quản lý năng lượng; thúc đẩy sử dụng thiết bị hiệu suất cao; phát triển dịch vụ năng lượng và tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ.

Khi được hiện thực hóa, các nhiệm vụ này sẽ tác động mạnh đến hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Thứ nhất là, tạo chuẩn mực cho sử dụng năng lượng, thông qua tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, mức hiệu suất năng lượng tối thiểu và định mức tiêu hao năng lượng. Đây là cơ sở để từng bước hạn chế công nghệ, thiết bị hiệu suất thấp và thúc đẩy chuyển dịch sang các sản phẩm, công nghệ hiệu suất cao hơn.

Thứ hai là, tăng năng lực nhận diện và quản lý mức tiêu hao năng lượng, thông qua kiểm toán năng lượng, hệ thống quản lý năng lượng và đội ngũ nhân lực chuyên môn. Với các cơ sở sử dụng năng lượng lớn, đây là nền tảng để việc tiết kiệm năng lượng được quản lý như một chỉ tiêu của hoạt động sản xuất thay vì chỉ là những giải pháp riêng lẻ.

Thứ ba là, tạo điều kiện để các cơ hội tiết kiệm trở thành đầu tư thực tế, thông qua phát triển dịch vụ năng lượng, mô hình ESCO, các cơ chế hỗ trợ và thúc đẩy ứng dụng công nghệ mới.

Như vậy, cùng với việc đặt ra các mục tiêu cụ thể, chính sách đang từng bước hình thành hệ sinh thái hỗ trợ để hiệu quả năng lượng trở thành một nội dung gắn với hoạt động đầu tư, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

năng lượng
năng lượng

Nhìn rộng hơn, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không đơn thuần là một giải pháp kỹ thuật hay một yêu cầu trong lĩnh vực năng lượng. Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng tiếp tục gia tăng cùng yêu cầu tăng trưởng kinh tế ở mức cao, việc sử dụng hiệu quả hơn mỗi đơn vị năng lượng trở thành một trong những cách thức quan trọng để nâng cao năng suất, giảm chi phí và tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Từ Chỉ thị số 09/CT-TTg, Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả sửa đổi năm 2025 đến Kế hoạch hành động của Bộ Công Thương, có thể thấy một hệ thống thể chế ngày càng đồng bộ đang được hình thành nhằm thúc đẩy đầu tư, đổi mới công nghệ và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực năng lượng.

tiết kiệm năng lượng

 

Trong hành trình hướng tới tăng trưởng nhanh và bền vững, bên cạnh việc phát triển các nguồn năng lượng mới, dư địa từ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả chính là một nguồn lực quan trọng còn nhiều tiềm năng để khai thác. Khi mỗi đơn vị năng lượng được sử dụng hiệu quả hơn, nền kinh tế không chỉ tiết kiệm được nguồn lực mà còn có thêm động lực để nâng cao năng lực cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng trong dài hạn.

Nội dung: Thy Thảo

Trình bày: Hạ Vĩ

Đón đọc Bài 2: "Mỏ năng lượng" chưa được khai thác hết