[eMagazine] Công nghiệp Việt Nam 2025: Phục hồi mạnh, lan tỏa rộng, tạo nền tảng tăng trưởng dài hạn
25/01/2026 lúc 18:15 (GMT)

[eMagazine] Công nghiệp Việt Nam 2025: Phục hồi mạnh, lan tỏa rộng, tạo nền tảng tăng trưởng dài hạn

 

Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, sản xuất công nghiệp Việt Nam năm 2025 đã phục hồi rõ nét và đạt mức tăng cao nhất trong nhiều năm trở lại đây. Đà tăng trưởng lan tỏa rộng trên các ngành, lĩnh vực và địa phương, khẳng định vai trò trụ cột của công nghiệp trong ổn định kinh tế vĩ mô và tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.

sản xuất công nghiệp

Năm 2025, trong bối cảnh có nhiều thách thức, công nghiệp tiếp tục khẳng định vai trò là trụ cột tăng trưởng quan trọng, giữ nhịp cho nền kinh tế và tạo nền tảng cho phục hồi lan tỏa.

Quy mô sản xuất công nghiệp phục hồi nhanh, trên diện rộng và liên tục được mở rộng. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) năm 2025 ước tăng khoảng 9,2%, là mức tăng cao nhất từ năm 2019 đến nay.

công nghiệp

Cơ cấu ngành công nghiệp chuyển dịch tích cực theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững: tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo (là tiêu chí trụ cột đánh giá nước công nghiệp) tiếp tục tăng khá, ước đạt 24,7% GDP (so với mức 24,1% của năm 2024), đáp ứng yêu cầu đề ra tại Nghị quyết 01 của Chính phủ; tỷ trọng ngành khai khoáng giảm dần. 

Công nghiệp chế biến, chế tạo trở thành động lực tăng trưởng của toàn ngành và nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao: chỉ số sản xuất ngành chế biến, chế tạo năm 2025 ước tăng 10,5%, đóng góp 8,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung, cũng là mức tăng cao nhất từ năm 2019 đến nay.

chế biến chế tạo
Năng lực sản xuất được giải phóng

Bức tranh sản xuất ghi nhận sự khởi sắc đồng loạt ở hầu hết các lĩnh vực nền tảng và hàng tiêu dùng, phản ánh sự phục hồi và tăng trưởng toàn diện của chuỗi cung ứng. Chỉ số IIP của các ngành: sản xuất xe có động cơ tăng ấn tượng 22,0%; các ngành công nghiệp vật liệu và phụ trợ cũng tăng mạnh như sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 16,2%, cao su và plastic tăng 15,7%, kim loại tăng 15,4%, sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 12,5%; các ngành hàng tiêu dùng và xuất khẩu chủ lực duy trì đà tăng cao với dệt may (trang phục) tăng 13,2%, giấy tăng 10,4%, da giày tăng 11,1%, chế biến thực phẩm tăng 11%.

sản xuất
dệt may

Các mặt hàng công nghiệp chủ lực phục vụ xây dựng, lắp ráp và tiêu dùng thiết yếu đều ghi nhận mức tăng sản lượng đáng kể so với cùng kỳ, khẳng định năng lực sản xuất đang được vận hành ở công suất cao. Dẫn đầu đà tăng là ô tô với mức tăng 39,1%; thép cán tăng 17,6%; tivi tăng 17,4%; quần áo mặc thường tăng 13,8%; xi măng tăng 13,6%; giày, dép da tăng 13,3%;…

Từ đó, các ngành công nghiệp nền tảng, ưu tiên của nền kinh tế tiếp tục phát triển (luyện kim, sắt thép; điện - điện tử; cơ khí chế tạo, ô tô, xe máy...), tạo nền tảng quan trọng cho tăng trưởng dài hạn, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 

Công nghiệp địa phương lấy lại đà tăng trưởng mạnh mẽ

Nhiều địa phương đã nỗ lực vượt qua khó khăn, phục hồi sản xuất, duy trì được thành tích công nghiệp khá với chỉ số IIP tăng đều ở tất cả các địa phương trên cả nước (tăng đều cả ở 34 địa phương), nhiều địa bàn công nghiệp trọng điểm phục hồi nhanh và duy trì đà tăng tích cực như: Quảng Ninh tăng 33,7%; Phú Thọ tăng 27,6%; Ninh Bình tăng 23,6%; Thanh Hóa tăng 17,4%; Bắc Ninh tăng 17,3%; Hải Phòng tăng 16,9%… 

Sự bứt phá này cho thấy quá trình tái cấu trúc lại không gian phát triển công nghiệp tại các địa phương đang diễn ra hiệu quả, với các cực tăng trưởng tại Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và vùng duyên hải giữ vai trò kết nối chuỗi cung ứng, logistics và sản xuất, qua đó tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực sang các địa bàn lân cận.

Hải Phòng
Cơ khí chế tạo nội địa ghi dấu rõ nét

Năm 2025, sản lượng ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước ước đạt khoảng 484,5 nghìn chiếc, tăng tới 39,1% so với năm 2024 - cao hơn đáng kể so với mức tăng 26,9% ghi nhận trong năm 2024. Trong khi đó, tổng doanh số toàn thị trường năm 2025 đạt 604.134 xe, đồng nghĩa với việc khoảng 80% lượng xe bán ra tại Việt Nam trong năm 2025 được lắp ráp nội địa, cho thấy các nhà máy được giải phóng năng lực sản xuất, hoạt động ở công suất cao, cùng với chuỗi cung ứng linh kiện ổn định cho phép các dây chuyền lắp ráp vận hành trơn tru.

ô tô

Cùng với đó, ngành cơ khí chế tạo tiếp tục mở rộng năng lực, từng bước tham gia sâu hơn vào các dự án hạ tầng, giao thông và công nghiệp trọng điểm. Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân trong nước, đã ký kết hợp tác với nhiều tập đoàn công nghệ và công nghiệp lớn trên thế giới để nhận chuyển giao công nghệ, bí quyết sản xuất và sẵn sàng đầu tư các dự án, lĩnh vực quan trọng, chiến lược trong các ngành công nghiệp của đất nước (như các dự án về hạ tầng - tiêu biểu là đường sắt tốc độ cao, đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị; năng lượng; viễn thông...).

cơ khí chế tạo
Việt Nam giữ vị thế Top 10 quốc gia xuất khẩu điện tử lớn nhất thế giới

Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2025 của ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tiêu thụ toàn ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học trong tháng 12/2025 giảm 17% so với tháng trước đó, tuy nhiên, cả năm 2025 chỉ số này tăng 11,6% so với năm 2024. Chỉ số sử dụng lao động thời điểm 01/12/2025 so với cùng kỳ năm trước đó tăng 16,1%. 

điện tử

Trong năm 2025 có 36 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 94,0% tổng kim ngạch xuất khẩu; trong đó, mặt hàng Điện tử, máy tính và linh kiện giữ tỷ trọng cao nhất, đạt giá trị 107.748 triệu USD, tăng khoảng 48,4% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng điện thoại di động toàn quốc năm 2025 ước đạt 189,1 triệu cái, tăng 3% so với năm 2024. Sản lượng tivi toàn quốc năm 2025 ước đạt 21.385,6 nghìn cái, tăng 17,4% so với năm 2024.

Với kết quả này, Việt Nam vững vàng trong nhóm 10 quốc gia xuất khẩu điện tử lớn nhất thế giới.

Sản lượng thép Việt dẫn đầu ASEAN

Năm 2025, ngành thép vẫn đóng vai trò chủ đạo, với sản lượng vượt trội và tăng trưởng trên 10% so với năm 2024. Sản lượng thép thô và thép cuộn cán nóng (HRC) tăng so với năm 2024. Trong đó, dự kiến sản lượng thép thô khoảng 26 triệu tấn, tăng 11,5% so với năm 2024; thép HRC dự kiến đạt 8,3 triệu tấn, tăng khoản 21% so với năm 2024; thép xây dựng dự kiến đạt 13 triệu tấn, tăng 09% so với cùng kỳ năm 2024. 

sản lượng thép

Ngoài ra, các ngành luyện kim khác như đồng tấm đạt 31.200 tấn, tăng khoảng 5% so với năm 2024; kẽm thỏi đạt khoảng 8.550 tấn, giảm 7% so với năm 2024. Ngoài ra, trong khu vực ASEAN, ngành thép Việt Nam cũng chiếm vị trí dẫn đầu khu vực về sản lượng. Trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2024, Việt Nam đã từ vị trí thứ 02 khu vực trở thành quốc gia sản xuất thép nhiều nhất khu vực ASEAN, chiếm 21,2% năm 2024. 

Năm 2025 cũng cho thấy nỗ lực tái cơ cấu lĩnh vực khoáng sản theo hướng chế biến sâu và sử dụng hiệu quả tài nguyên. Việt Nam tiếp tục sở hữu trữ lượng lớn về bô-xít, đất hiếm, vonfram, titan - những vật liệu chiến lược cho các ngành công nghiệp mới, mở ra dư địa hình thành chuỗi giá trị dài hạn nếu được khai thác hợp lý.

Dệt may, da giày giữ nhịp tăng trưởng, điểm tựa cho xuất khẩu 

Ngành dệt may, da giày tiếp tục giữ vững vai trò là các ngành công nghiệp chủ lực, tạo việc làm và đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu quốc gia. Mặc dù đối mặt với áp lực lớn từ thị trường thế giới, các doanh nghiệp trong ngành đã nỗ lực tái cơ cấu, đa dạng hóa thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh. 

da giày

Năm 2025, chỉ số ngành dệt tăng 7,6% so với năm 2024, chỉ số sản xuất trang phục tăng 13,2%. Kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may đạt 47,12 tỷ USD, tăng 6% so với năm 2024, trong đó, xuất khẩu hàng may mặc đạt 39,64 tỷ USD, tăng 7%, đã cải thiện so với mức tăng 6,72% trong 11 tháng; xuất khẩu nguyên phụ liệu đạt 2,43 tỷ USD, tăng 9,1%, cải thiện so với mức tăng 7,7% trong 11 tháng; tuy nhiên, xuất khẩu xơ sợi đạt 4,3 tỷ USD, giảm nhẹ 2,1%, xuất khẩu vải kỹ thuật đạt 740 triệu USD giảm 4% so với năm 2024. 

Trong bối cảnh thị trường thế giới biến động mạnh, kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam đạt 47,12 tỷ USD, duy trì vị trí top 3 ngành dệt may toàn cầu được xem là điểm tựa quan trọng để toàn ngành tiếp tục quá trình tái cấu trúc, thích ứng với các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe từ những thị trường xuất khẩu chủ lực. 

Đối với ngành da giày, tổng kim ngạch xuất khẩu ngành da giày năm 2025 đạt 28,6 tỷ USD, tăng so với mức 27 tỷ USD của năm 2024; trong đó Túi xách, ví, vali, mũ, ô, dù đạt 4,6 tỷ USD; Giày dép các loại đạt 24 tỷ USD. Việt Nam tiếp tục giữ vững vị trí thứ 2 thế giới về xuất khẩu giày dép, với năng lực cạnh tranh vượt trội trong phân khúc giày thể thao và giày da.

Trên nền tảng phục hồi mạnh mẽ trong năm 2025, ngành công nghiệp Việt Nam bước vào năm 2026 với những mục tiêu tăng trưởng rõ ràng và tham vọng hơn. Theo mục tiêu mà Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) đưa ra, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) năm 2026 phấn đấu tăng khoảng 11% so với năm 2025, trong khi tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục được nâng lên trên 24,96%. Đây là cơ sở quan trọng để ngành công nghiệp tiếp tục giữ vai trò trụ cột của nền kinh tế, tạo dư địa cho tăng trưởng dài hạn và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn tới.

dệt may

Trang chủ

Bài mới

Xem nhiều

Multimedia

Tạp chí