(Emagazine) Dao Phúc Sen: Giữ lửa nghề rèn của người Nùng An
06/09/2026 lúc 08:10 (GMT)

(Emagazine) Dao Phúc Sen: Giữ lửa nghề rèn của người Nùng An

Giữa miền non nước Cao Bằng, qua bao biến thiên của đời sống, những lò rèn của người Nùng An ở Phúc Sen vẫn đỏ lửa. Từ những nông cụ phục vụ cuộc sống thường ngày, người thợ đã tạo dựng danh tiếng cho dao Phúc Sen bằng những bí quyết truyền qua nhiều thế hệ. Năm 2019, nghề rèn của người Nùng An được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Nhưng phía sau một danh hiệu là câu chuyện dài hơn: làm thế nào để một nghề thủ công hàng trăm năm tuổi không chỉ được lưu giữ, mà vẫn sống được bằng thị trường, tiếp tục tạo sinh kế và có người trẻ nối nghề.

dao Phúc Sen

Khu vực Phúc Sen trước đây thuộc huyện Quảng Hòa, từ năm 2025 thuộc xã Quảng Uyên mới, tỉnh Cao Bằng. Đi qua những bản làng của người Nùng An nơi đây, âm thanh dễ nhận biết của một vùng nghề là tiếng búa nện xuống đe, tiếng bễ thổi lò và ánh lửa hắt lên những thanh thép đang đỏ rực.

Máy móc đã đi vào nhiều công đoạn sản xuất. Những con dao công nghiệp được làm hàng loạt, mẫu mã phong phú, giá thành cạnh tranh có mặt ở khắp thị trường. Nhưng tại Pác Rằng, Phia Chang, Tiến Minh, Đâư Cọ…, người thợ vẫn ngày ngày đứng bên lò lửa.

dao Phúc Sen

Bởi với họ, rèn không đơn thuần là nghề. Trong mỗi nhát búa còn có kinh nghiệm của người đi trước; trong cách nhìn màu thép có tri thức được tích lũy qua nhiều đời; và phía sau mỗi con dao bán ra thị trường là một sinh kế đã gắn với cộng đồng người Nùng An qua hàng trăm năm.

Thế nhưng, để xác định chính xác nghề rèn Phúc Sen bắt đầu từ năm nào không phải dễ.

Hồ sơ tư liệu của Cục Di sản văn hóa ghi nhận trong cộng đồng Nùng An hiện vẫn lưu truyền hai cách lý giải về nguồn gốc nghề. Theo một truyền thuyết, người Nùng An đã mang kỹ thuật rèn theo trong quá trình di cư đến vùng đất Cao Bằng. Một cách lý giải khác cho rằng nghề có sự kế thừa từ những lò rèn, đúc vũ khí tồn tại ở Cao Bằng vào thời nhà Mạc, khoảng thế kỷ XVI.

Dù câu chuyện khởi đầu được kể theo những cách khác nhau, có một điều rõ ràng rằng, nghề rèn đã tồn tại hàng trăm năm và phát triển cùng quá trình định cư của người Nùng An ở Phúc Sen.

Thuở ban đầu, những sản phẩm được làm ra trước hết để phục vụ chính cuộc sống của cư dân miền núi. Một chiếc dao theo người đàn ông lên rừng. Lưỡi cuốc, lưỡi cày giúp mở đất làm nương. Liềm dùng khi thu hoạch. Búa, rìu, đục, bào phục vụ dựng nhà và những công việc thường ngày. Từ nhu cầu tự cung, tự cấp trong gia đình và bản làng, sản phẩm rèn dần được mang trao đổi, rồi theo những phiên chợ đi xa hơn. Danh tiếng của Phúc Sen cũng lớn lên từ đó.

dao Phúc Sen

Không phải nhờ những dây chuyền sản xuất lớn, người thợ gây dựng uy tín bằng chính độ sắc, độ bền của sản phẩm. Khi một con dao dùng tốt được truyền tai từ người này sang người khác, thị trường của làng nghề dần vượt khỏi phạm vi bản làng.

Nhưng điều đặc biệt nhất của nghề rèn Phúc Sen không nằm ở hình dáng một chiếc dao. Đó là cách tri thức nghề được truyền từ người này sang người khác.

Ở đây gần như không có một giáo trình cố định cho việc trở thành thợ rèn. mỗi gia đình lại có những kinh nghiệm, bí quyết riêng. Đứa trẻ lớn lên bên lò lửa, ban đầu nhìn cha ông làm việc, rồi kéo bễ, cầm búa nhỏ, học cách nhận biết thanh thép đủ nóng. Khi đôi tay cứng cáp hơn mới dần được giao những công đoạn khó.

Người thợ phải biết nhìn màu của thép để đoán nhiệt; nghe tiếng búa và cảm nhận độ vang để điều chỉnh lực; biết lúc nào cần đưa phôi trở lại lò, lúc nào có thể tạo dáng và thời điểm nào thích hợp để tôi.

Trong quy trình ấy, thợ cả giữ vai trò quyết định. Một lò rèn truyền thống thường cần hai đến ba người. Thợ phụ kéo bễ, quai búa, hỗ trợ mài, dũa; thợ cả kiểm soát lửa, tạo hình và đảm nhiệm những khâu cần nhiều kinh nghiệm nhất. Có lúc ba chiếc búa tạ cùng một chiếc búa tay phối hợp quanh một phôi thép đang đỏ rực. Nhịp búa phải ăn khớp, vừa tiết kiệm sức vừa đưa kim loại dần thành hình.

Một trong những kỹ thuật được Cục Di sản văn hóa đặc biệt nhắc tới là “dồn sắt”. Sau khi tạo dáng, người thợ tiếp tục xử lý để sản phẩm đạt độ cứng mong muốn. Hồ sơ di sản xác định đây là một bí quyết đặc trưng của nghề rèn Phúc Sen.

Khó nhất vẫn là tôi. Thanh thép sau hàng loạt lần nung và tạo hình chỉ thực sự trở thành một lưỡi dao tốt khi người thợ xử lý đúng ở công đoạn quyết định này. Tôi quá non, dao không đủ cứng; xử lý quá già, thép có thể giòn. Vì vậy, cùng nguyên liệu, cùng một lò lửa nhưng tay nghề khác nhau có thể cho ra những sản phẩm khác nhau.

Đằng sau độ sắc của dao Phúc Sen vì thế là một thứ tài sản khó nhìn thấy: tri thức bản địa tích lũy qua nhiều thế hệ. Đối với người Nùng An, lò rèn còn vượt ra ngoài ý nghĩa của một nơi sản xuất.

dao Phúc Sen

Người làm nghề lập bát hương tại nhà và tại lò. Vào những ngày rằm, mùng một, dịp Tết Nguyên đán hay rằm tháng Bảy, các gia đình thực hành nghi lễ liên quan tới Tổ nghề. Đầu năm, một ngày tốt được chọn để nổi lửa khai lò với mong muốn cả năm công việc thuận lợi, lò luôn có lửa và tiếng búa, tiếng đe không ngừng.

Thậm chí, với người rời quê đi nơi khác và quyết định không tiếp tục nghề, việc xin thôi nghề cũng gắn với nghi lễ tạ Tổ. Những tập quán ấy cho thấy nghề rèn đã ăn sâu vào đời sống tinh thần của cộng đồng.

Ở Phúc Sen, truyền nghề vì thế không chỉ là dạy một người biết làm ra chiếc dao. Người đi trước còn truyền cách đối đãi với nghề, sự cẩn trọng trong từng sản phẩm và ý thức giữ uy tín của người thợ.

Ngọn lửa trong lò có thể được nhóm lại mỗi sáng. Nhưng để một nghề tồn tại qua nhiều thế hệ, cần một ngọn lửa khác khó giữ hơn nhiều. Đó là mong muốn của thế hệ sau tiếp tục đứng vào vị trí của cha ông bên bễ rèn.

dao Phúc Sen

Những nghề truyền thống không thể tồn tại lâu dài chỉ bằng ký ức. Muốn tiếng búa tiếp tục vang, người làm nghề phải bán được sản phẩm; muốn con cháu tiếp tục cầm búa, nghề phải tạo ra thu nhập.

Đó có lẽ là một trong những lý do quan trọng nhất giúp nghề rèn Phúc Sen đi qua những thay đổi lớn của đời sống kinh tế.

Nếu trước kia sản phẩm chủ yếu phục vụ nhu cầu sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt trong vùng, ngày nay danh mục hàng hóa đã rộng hơn nhiều. Ngoài cuốc, cày, búa, rìu, liềm…, dao trở thành dòng sản phẩm được biết đến nhiều nhất. Từ dao đi rừng, dao chặt củi đến dao thái, dao lọc, dao chặt xương…, người làm nghề phải thích nghi với nhu cầu ngày càng cụ thể của khách hàng.

dao Phúc Sen

Sự thay đổi còn đến từ chính công cụ sản xuất. Một số khâu nặng nhọc có thể có sự hỗ trợ của máy móc, giúp giảm sức lao động và tăng năng suất. Nhưng những công đoạn quyết định đặc trưng của sản phẩm như chọn thép, kiểm soát nhiệt, tạo hình, tôi, ram, hoàn thiện lưỡi vẫn cần bàn tay và kinh nghiệm của người thợ.

Đây là ranh giới quan trọng giữa đổi mới để nghề sống được và thay đổi đến mức đánh mất nghề.

Hiện xã Phúc Sen có 6/10 xóm làm nghề rèn: Pác Rằng, Phia Chang trên, Phia Chang dưới, Đâư Cọ, Lũng Vài, Tình Đông…với gần 200 lò rèn/trên 220 hộ/550 thợ rèn có tay nghề cao. Hằng năm sản xuất 40 -50.000 nghìn sản phẩm rèn bán ra thị trường cả nước. Những con số có thể thay đổi theo từng thời kỳ, nhưng cho thấy điều quan trọng: nghề rèn không phải một hoạt động trình diễn để phục vụ du lịch. Nó vẫn là sinh kế thực sự.

dao Phúc Sen

Với Lương Văn Khiêm, bài toán ấy ngày càng rõ khi anh trưởng thành và trực tiếp làm nghề. Nếu thế hệ cha ông chủ yếu rèn dao rồi mang ra chợ bán, người thợ hôm nay còn phải tính chuyện xây dựng thương hiệu, mẫu mã, tìm thị trường và bảo vệ uy tín của dao Phúc Sen.

Năm 2019, Khiêm cùng các thành viên thành lập Hợp tác xã Dao Phúc Sen Hà Khiêm với 7 thành viên. Việc liên kết thành HTX mở ra một cách làm mới: tổ chức sản xuất, phát triển sản phẩm, tìm kiếm thị trường và từng bước đưa chiếc dao thủ công thành hàng hóa có nhận diện rõ ràng.

Đến nay, HTX duy trì sản xuất, tạo việc làm thường xuyên và thời vụ cho khoảng 20 lao động địa phương. Năm 2025, HTX được Bộ Công Thương lựa chọn là HTX kinh doanh sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tiêu biểu.

Ở thế hệ Khiêm, bài toán giữ nghề không còn chỉ là “rèn cho tốt”. Sản phẩm phải có thương hiệu, mẫu mã phải phù hợp thị hiếu, người mua phải phân biệt được dao Phúc Sen chính hiệu với những sản phẩm gắn tên địa phương nhưng không rõ nguồn gốc.

dao Phúc Sen

Bên cạnh mẫu cán sắt truyền thống, HTX phát triển thêm các sản phẩm cán gỗ nghiến, gỗ cẩm chỉ, đa dạng hóa công năng và kiểu dáng. Sản phẩm được đưa đến hội chợ, điểm giới thiệu hàng hóa và lên môi trường số. Nhiều chủ thể dao Phúc Sen đã có sản phẩm OCOP 3 sao, trong đó có Dao Phúc Sen Hà Khiêm, Dao Phúc Sen Huy Dương và Dao Lưu Hương Phúc Sen Cao Bằng.

Một bước chuyển nữa khi Khiêm đưa câu chuyện làng nghề lên mạng xã hội. Những video về quá trình nung thép, quai búa, tôi dao vừa giới thiệu sản phẩm, vừa giúp người xem hiểu vì sao một con dao rèn thủ công khác với một sản phẩm sản xuất hàng loạt. Với Khiêm, không gian số còn mở thêm một con đường đưa nghề rèn đến gần khách hàng. Đây cũng là một cách để người thợ trẻ kể câu chuyện văn hóa của bản làng bằng phương thức mới.

dao Phúc Sen

Ngoài thời gian làm việc ở xưởng, Khiêm còn dành thời gian hướng dẫn kỹ thuật cho những người trẻ muốn học rèn. Năm 2026, anh được biểu dương là một trong số các thợ thủ công, thợ kỹ thuật giỏi của tỉnh Cao Bằng.

Sự tiếp nối ấy có lẽ là thước đo thực chất nhất đối với sức sống của một làng nghề. Bởi một di sản có thể được ghi tên trong danh mục, một sản phẩm có thể nằm trong tủ trưng bày, nhưng nếu không còn người biết làm, di sản ấy cuối cùng vẫn chỉ thuộc về quá khứ.

dao Phúc Sen

Ngày 29/1/2019 trở thành một dấu mốc đặc biệt đối với những người thợ Phúc Sen. Tại Quyết định số 446/QĐ-BVHTTDL, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa “Nghề rèn của người Nùng An, xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng” vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, thuộc loại hình nghề thủ công truyền thống.

dao Phúc Sen

Thứ được ghi danh không phải một mẫu dao cụ thể, đó là nghề rèn của người Nùng An. Phía sau cách gọi tưởng như ngắn gọn ấy là cả một hệ thống giá trị: kỹ thuật nghề, phương thức truyền nghề, bí quyết tôi thép, tục thờ Tổ, những tri thức dân gian liên quan đến lửa và kim loại, sự phối hợp lao động giữa các thành viên trong một lò rèn, đạo đức nghề nghiệp và mối liên kết cộng đồng.

Nói cách khác, đó là đời sống văn hóa hình thành quanh những lò lửa của người Nùng An qua nhiều thế hệ.

Nếu một chiếc búa, chiếc đe hay mẫu dao cổ có thể được lưu giữ trong không gian trưng bày, thì kỹ thuật nhìn màu thép, điều khiển ngọn lửa hay cảm nhận thời điểm tôi dao chỉ tồn tại khi vẫn còn người thực hành.

Bởi vậy, việc những sản phẩm rèn được chuẩn hóa để tham gia OCOP, có nhãn hiệu, bao bì, tem nhận diện; việc hình thành HTX; đưa dao Phúc Sen đến các hội chợ, điểm giới thiệu sản phẩm và lên kênh bán hàng trực tuyến không chỉ mang ý nghĩa thương mại.

dao Phúc Sen

Thị trường tạo đầu ra cho sản phẩm, đầu ra tạo thu nhập cho người làm nghề, và chính thu nhập giúp nghề có thêm cơ hội được trao truyền.

Ở Lương Văn Khiêm, vòng quay ấy đang tiếp tục. Từ một cậu bé đứng bên cha ông học từng nhát búa, hôm nay anh vừa làm nghề, tổ chức sản xuất, tìm thị trường, vừa dành thời gian hướng dẫn kỹ thuật cho những người trẻ muốn học rèn. Có người sau khi học nghề đã đủ tay nghề để tự mở lò, tạo sinh kế cho gia đình. Khoảng cách từ một đứa trẻ đứng cạnh người thợ cả đến một người thợ quay lại truyền nghề cho thế hệ sau chính là vòng tiếp nối giúp một di sản tồn tại.

dao Phúc Sen

Ngày nay, Pác Rằng đã trở thành một điểm dừng chân trên hành trình khám phá Non nước Cao Bằng. Khách đến không chỉ mua một con dao mà còn có thể quan sát quá trình một thanh thép thô đi qua lửa, búa, nước tôi rồi trở thành sản phẩm hoàn chỉnh.

Sau sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, tên Phúc Sen không còn là tên một đơn vị hành chính độc lập, nhưng vẫn hiện diện như tên gọi của một vùng nghề đã gây dựng uy tín qua nhiều thế hệ.

Địa giới có thể thay đổi, cách bán hàng có thể thay đổi, máy móc có thể thay sức người ở một số công đoạn. Nhưng thanh thép vẫn phải đi qua lửa. Người thợ vẫn phải biết lúc nào thép đủ độ để đưa ra đe. Những kinh nghiệm không thể viết hết thành công thức vẫn cần người đi trước trao lại cho người đi sau.

Lương Văn Khiêm từng bày tỏ mong muốn “tiếng búa Phúc Sen không bao giờ im lặng”. Có lẽ đó cũng là câu trả lời ngắn nhất cho bài toán bảo tồn nghề rèn của người Nùng An.

dao Phúc Sen
          

Bài: Huy Tưởng
Ảnh: Hà Khiêm, Báo Cao Bằng
Thiết kế: Đinh Hương

Hình ảnh đồ họa có sử dụng AI