[Emagazine] Phát triển hệ sinh thái công nghiệp - năng lượng: Mở ra dư địa cho doanh nghiệp trong nước phát huy năng lực công nghệ
Sự giao thoa ngày càng rõ giữa các chuỗi năng lượng, sản xuất công nghiệp, dịch vụ kỹ thuật, cảng biển và logistics đang tạo nền tảng hình thành hệ sinh thái công nghiệp - năng lượng tại Việt Nam, mở ra dư địa để doanh nghiệp trong nước phát huy năng lực công nghệ, sản xuất và dịch vụ, gia tăng giá trị được giữ lại trong nền kinh tế và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực, quốc tế.

Trong giai đoạn phát triển mới, Việt Nam đặt mục tiêu chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng gắn với nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực.
Đặt trong yêu cầu đó, năng lượng không còn chỉ là yếu tố đầu vào phục vụ tăng trưởng. Quá trình đầu tư phát triển và chuyển đổi của ngành năng lượng đồng thời tạo ra nhu cầu lớn về công nghệ, thiết bị, cơ khí chế tạo, xây lắp, dịch vụ kỹ thuật, cảng biển, logistics và nguồn nhân lực. Giá trị của phát triển năng lượng, vì vậy, còn được thể hiện ở những chuỗi sản xuất, dịch vụ và năng lực công nghiệp có thể hình thành xung quanh các nguồn năng lượng.

Thực tế, các chuỗi giá trị năng lượng và công nghiệp vốn phát triển tương đối độc lập đang có nhiều điểm giao thoa. Dầu khí có thể chia sẻ năng lực kỹ thuật và hạ tầng với năng lượng ngoài khơi; cảng biển có thể phục vụ đồng thời LNG, dầu khí, công nghiệp và năng lượng tái tạo; cơ khí chế tạo có thể mở rộng từ thiết bị, kết cấu dầu khí sang các cấu kiện cho công trình năng lượng mới; các doanh nghiệp dịch vụ kỹ thuật có thể chuyển những năng lực đã tích lũy sang những thị trường mới.
Cùng với quá trình chuyển dịch năng lượng, những mối liên kết mới tiếp tục hình thành. Các mỏ dầu khí suy giảm hoặc kết thúc khai thác có thể được nghiên cứu phục vụ thu giữ, lưu trữ carbon (CCS); năng lượng tái tạo có thể kết nối với sản xuất hydrogen, ammonia xanh và các ngành công nghiệp sử dụng năng lượng sạch. Qua đó, mối liên kết giữa nguồn năng lượng với hạ tầng, công nghiệp chế tạo, dịch vụ kỹ thuật và logistics ngày càng chặt chẽ hơn.
Sự dịch chuyển ấy phù hợp với định hướng tổ chức lại các hoạt động kinh tế theo hướng tăng cường liên kết thay vì phát triển riêng rẽ từng ngành, từng lĩnh vực. Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển từ quản lý theo ngành sang quản trị tổng hợp; định hướng phát triển công nghiệp dịch vụ kỹ thuật dầu khí và công trình biển, nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo, thi công công trình ngoài khơi; đồng thời phát triển năng lượng tái tạo và các lĩnh vực mới như hydrogen, ammonia xanh.

Trong khi đó, Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định phát triển hài hòa giữa các phân ngành năng lượng với hạ tầng đồng bộ; đồng thời đặt nhiệm vụ xây dựng các tập đoàn công nghiệp năng lượng trong nước có khả năng làm tổng thầu EPC các dự án lớn, phát triển công nghiệp sản xuất thiết bị năng lượng và tăng nhanh tỷ lệ nội địa hóa. Nghị quyết cũng đặt ra nhiệm vụ xây dựng, hình thành Trung tâm công nghiệp năng lượng quốc gia tích hợp khí, LNG, điện, lọc - hóa dầu và năng lượng tái tạo tại các địa phương có lợi thế.
Với việc Luật Dầu khí (sửa đổi) được Quốc hội thông qua ngày 23/8/2026, không gian để phát triển chuỗi giá trị ngành năng lượng càng được mở rộng. Luật bổ sung khuôn khổ pháp lý cho hoạt động thu giữ, lưu trữ carbon (CCS) gắn với hoạt động dầu khí, phát triển công trình năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí và dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao. Các quy định mới tạo cơ sở để thông tin, dữ liệu, công trình, hạ tầng và những năng lực đã hình thành từ hoạt động dầu khí tiếp tục được nghiên cứu, khai thác trong các lĩnh vực mới.
Cần nhìn nhận rõ, phát triển hệ sinh thái công nghiệp - năng lượng không đơn thuần là bố trí nhiều dự án năng lượng trên cùng một địa bàn. Yếu tố quan trọng là khả năng kết nối nguồn năng lượng với hạ tầng, sản xuất công nghiệp và dịch vụ. Xung quanh các nguồn năng lượng là mạng lưới doanh nghiệp chế tạo thiết bị, cơ khí và công trình biển, xây lắp, cảng và logistics, dịch vụ kỹ thuật, công nghệ, nghiên cứu - phát triển và đào tạo nhân lực. Các chủ thể được kết nối bởi hạ tầng, thị trường, công nghệ và chuỗi cung ứng, qua đó tạo ra giá trị vượt ra ngoài phạm vi của từng dự án riêng lẻ.



Sau nhiều thập niên phát triển các ngành năng lượng, một nền tảng về hạ tầng, cơ sở công nghiệp, dịch vụ kỹ thuật và nguồn nhân lực đã được hình thành. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để những năng lực đã tích lũy này tiếp tục được khai thác, chuyển đổi và mở rộng khi LNG, năng lượng tái tạo, năng lượng ngoài khơi và các lĩnh vực mới đang tạo thêm những chuỗi giá trị và thị trường mới.
Với dầu khí, ngành đã tích lũy năng lực trên nhiều khâu của chuỗi giá trị, từ khảo sát địa chất - địa vật lý, tìm kiếm, thăm dò, khai thác đến thiết kế, chế tạo, xây lắp công trình biển, vận hành - bảo dưỡng, dịch vụ kỹ thuật, vận tải biển và quản lý các dự án quy mô lớn. Đi cùng với đó là đội ngũ nhân lực và kinh nghiệm triển khai các công trình ngoài khơi, hệ thống công trình khai thác, đường ống, kho chứa, cảng và cơ sở dịch vụ kỹ thuật.

Nền tảng ấy tạo khả năng chuyển tiếp sang những chuỗi năng lượng mới. Dữ liệu địa chất - địa vật lý và năng lực khảo sát biển có thể hỗ trợ các hoạt động năng lượng ngoài khơi; các mỏ dầu khí suy giảm hoặc kết thúc khai thác có thể được nghiên cứu cho lưu trữ CO2; kinh nghiệm thiết kế, chế tạo, xây lắp, vận hành công trình biển và dịch vụ kỹ thuật tạo nền tảng để doanh nghiệp tham gia những lĩnh vực mới.
Phát biểu giải trình tại phiên thảo luận của Quốc hội về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi) chiều 8/8/2026, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cho biết, việc phát triển năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí có ý nghĩa trong phát triển chuỗi giá trị dầu khí, tiết kiệm tài nguyên và nâng cao hiệu quả khai thác. Các dự án khai thác dầu khí cũng là những công trình sử dụng năng lượng lớn; việc tích hợp năng lượng tái tạo phục vụ các công trình này có thể đồng thời tận dụng hệ thống đường ống, giàn khoan hiện có.
Điện gió ngoài khơi là một ví dụ. Một dự án không chỉ cần turbine gió mà còn kéo theo nhu cầu về móng và kết cấu ngoài khơi, hệ thống điện, trạm biến áp, cáp, cảng và bãi lắp ráp, tàu dịch vụ, khảo sát biển, vận chuyển, lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng. Nhiều công đoạn trong số đó có sự tương đồng với những năng lực mà ngành dầu khí, cơ khí và dịch vụ biển Việt Nam đã tích lũy. Ở góc độ rộng hơn, quy mô đầu tư vào năng lượng trong những năm tới có thể tạo ra một thị trường lớn cho công nghiệp và dịch vụ trong nước.
Bởi vậy, cơ hội đối với công nghiệp trong nước không nhất thiết bắt đầu bằng việc sản xuất toàn bộ một hệ thống công nghệ phức tạp. Quan trọng hơn là xác định những mắt xích mà doanh nghiệp Việt Nam đã có nền tảng, có khả năng cạnh tranh và có thể từng bước nâng tỷ trọng giá trị thực hiện trong nước.

Khả năng kết nối, sử dụng chung hạ tầng giữa các chuỗi giá trị đang hiện diện tại một số không gian công nghiệp cụ thể. Ở phía Nam, khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu trước đây, nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung nhiều cấu phần như dầu khí, khí - điện, hóa dầu, cơ khí chế tạo, dịch vụ kỹ thuật, cảng biển và logistics.

Trên trục Phú Mỹ - Cái Mép - Thị Vải, hệ thống cảng nước sâu gắn với các khu công nghiệp, trung tâm điện lực, hạ tầng khí và LNG tạo nên một không gian mà năng lượng vừa là một ngành kinh tế, vừa trực tiếp phục vụ sản xuất công nghiệp. Kho cảng LNG Thị Vải bổ sung một mắt xích vào hệ thống hạ tầng năng lượng của khu vực, trong khi cụm cảng Cái Mép - Thị Vải phục vụ vận chuyển nguyên liệu, thiết bị, hàng hóa và phát triển dịch vụ logistics.
Với Tổ hợp hóa dầu Long Sơn thì bổ sung cấu phần chế biến sâu và hóa dầu. Cùng với các cơ sở dầu khí, dịch vụ kỹ thuật và cơ khí chế tạo đã hình thành, sự tập trung của cảng biển, năng lượng và công nghiệp tạo điều kiện để các chuỗi giá trị kết nối với nhau trên cùng một không gian.
Một không gian đáng chú ý khác là Rạch Dừa - Sao Mai - Bến Đình, nơi Petrovietnam định hướng phát triển tổ hợp công nghiệp năng lượng và dịch vụ kỹ thuật trên cơ sở những lợi thế sẵn có về hoạt động dầu khí, cơ sở dịch vụ, công trình biển và kết nối cảng. Nếu Phú Mỹ - Cái Mép - Thị Vải thể hiện sự hội tụ giữa cảng biển, khí, LNG, điện và công nghiệp, thì Rạch Dừa - Sao Mai - Bến Đình cho thấy khả năng phát triển tiếp từ nền tảng công nghiệp và dịch vụ kỹ thuật dầu khí.
Sự tập trung của nhiều cấu phần công nghiệp - năng lượng trên cùng một không gian gia tăng khả năng sử dụng chung và bổ trợ giữa các nguồn lực. Cảng biển tạo đầu mối cho logistics và thiết bị; cơ sở chế tạo, xây lắp và dịch vụ kỹ thuật có thể phục vụ nhiều loại công trình; nguồn năng lượng gắn với các hộ tiêu thụ công nghiệp; kinh nghiệm hoạt động ngoài khơi có thể tiếp tục được phát huy khi những chuỗi năng lượng mới trên biển phát triển.
Ở miền Trung, Vũng Áng - Hà Tĩnh cho thấy một hướng hội tụ khác. Khu kinh tế Vũng Áng có lợi thế về cảng nước sâu, đồng thời tập trung các cơ sở sản xuất công nghiệp và năng lượng quy mô lớn. Sự hiện diện của công nghiệp luyện kim, nhiệt điện, hệ thống cảng và logistics tạo mối liên hệ trực tiếp giữa hạ tầng năng lượng với các ngành sản xuất có nhu cầu lớn về năng lượng, nguyên liệu và vận tải. Cảng biển phục vụ xuất nhập khẩu nguyên liệu, hàng hóa và các hoạt động năng lượng; các dự án năng lượng cung cấp đầu vào cho sản xuất; còn các cơ sở công nghiệp tạo thị trường cho năng lượng, logistics và các dịch vụ liên quan.
Dự án Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II, tỉnh Hà Tĩnh.
Những trường hợp này cho thấy hệ sinh thái công nghiệp - năng lượng không nhất thiết hình thành theo một mô hình duy nhất. Có nơi phát triển từ nền tảng dầu khí và dịch vụ kỹ thuật ngoài khơi; có nơi dựa trên sự hội tụ của cảng biển, công nghiệp quy mô lớn và hạ tầng năng lượng. Điều quan trọng là kết nối các nguồn lực đã có, bổ sung những mắt xích còn thiếu và tạo điều kiện để nhiều chuỗi giá trị cùng phát triển trên một không gian.

Trong bối cảnh các dự án ngày càng lớn, yêu cầu kỹ thuật cao và chuỗi cung ứng mang tính quốc tế, doanh nghiệp Việt Nam cần đáp ứng các yêu cầu về công nghệ, chất lượng, tiến độ, an toàn và năng lực quản trị để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Điều đó đòi hỏi sự chuyển dịch ngay trong năng lực của doanh nghiệp: từ gia công, chế tạo theo thiết kế có sẵn tiến tới tham gia sâu hơn vào thiết kế, kỹ thuật, tích hợp hệ thống và quản lý dự án; từ cung cấp dịch vụ đơn lẻ tiến tới những gói dịch vụ kỹ thuật có mức độ tích hợp cao hơn; từ tiếp nhận công nghệ tiến tới làm chủ, cải tiến và phát triển những giải pháp phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
Theo hướng đó, tỷ lệ giá trị được thực hiện trong nước mới là một chỉ dấu. Mục tiêu dài hạn phải là khả năng làm chủ công nghệ và đảm nhiệm những khâu ngày càng phức tạp trong chuỗi giá trị. Năng lực nghiên cứu - phát triển và nguồn nhân lực cũng cần trở thành những mắt xích chặt chẽ hơn trong hệ sinh thái.
Các chuỗi năng lượng mới như điện gió ngoài khơi, hydrogen, ammonia hay CCS đều đặt ra các bài toán về vật liệu, kết cấu, điều kiện địa chất, môi trường biển, lưu trữ, vận chuyển và vận hành.

Việc kết nối doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học và các tổ chức khoa học - công nghệ, đồng thời bổ sung kỹ năng cho đội ngũ kỹ sư, lao động kỹ thuật đã xây dựng được trong ngành dầu khí, điện lực, cơ khí và công trình biển, sẽ tạo nền tảng để doanh nghiệp tiếp cận và từng bước làm chủ những công nghệ mới.
Dư địa giá trị còn nằm ở các khâu dịch vụ và công nghệ. Các dự án năng lượng ngày càng cần hệ thống giám sát, điều khiển, quản trị dữ liệu, mô phỏng, bảo trì dự báo và các giải pháp số trong quản lý vận hành. Đây là những lĩnh vực phụ thuộc nhiều vào trình độ công nghệ, dữ liệu và chất lượng nguồn nhân lực, nhưng mở ra khả năng giúp doanh nghiệp Việt Nam dịch chuyển từ cung cấp sản phẩm, dịch vụ đơn lẻ sang những phần việc có hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao hơn.

Bên cạnh nội lực doanh nghiệp, liên kết với các nhà đầu tư, tổng thầu và nhà cung cấp công nghệ quốc tế cũng là một con đường để nâng cao năng lực. Ngoài hợp tác mua sắm thiết bị hoặc sử dụng nhà thầu phụ trong nước, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng, qua đó tiếp nhận công nghệ, tích lũy kinh nghiệm và nâng chuẩn để tiếp tục tham gia những dự án sau.
Trong một ngành có mức độ chuyên môn hóa và liên kết toàn cầu cao như năng lượng, điều quan trọng là xác định những khâu Việt Nam có khả năng xây dựng lợi thế và từng bước nâng vị trí trong chuỗi giá trị. Đó có thể là công trình và kết cấu ngoài khơi, cơ khí chế tạo, dịch vụ kỹ thuật, khảo sát - thiết kế, logistics biển, vận hành - bảo dưỡng hay những giải pháp số phục vụ quản lý năng lượng.
Khi những năng lực này đủ sức cạnh tranh, thị trường không còn giới hạn ở các dự án trong nước, doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia chuỗi cung ứng của các dự án trong khu vực, xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ kỹ thuật và từng bước đảm nhiệm những phần việc có giá trị cao hơn. Quá trình chuyển dịch năng lượng khi đó cũng mở thêm không gian để công nghiệp Việt Nam tham gia vào những chuỗi giá trị đang được tái định hình trên phạm vi toàn cầu.

