Khoa học công nghệ: Động lực tạo chuyển biến cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Sản vật vùng cao sở hữu lợi thế lớn từ thiên nhiên và tri thức bản địa, nhưng máy móc đắt tiền không phải là chìa khóa vạn năng. Khi giống, canh tác và bảo quản chưa chuẩn, công nghệ hiện đại cũng khó phát huy hiệu quả. Điểm nghẽn cốt lõi nằm ở tính đồng bộ của cả hệ thống, nơi khoa học công nghệ tạo cú huých xuyên suốt toàn bộ chuỗi giá trị.

Trong sản xuất vùng cao, hiệu quả của khoa học công nghệ không được quyết định bởi một thiết bị riêng lẻ, mà bởi khả năng thiết bị đó vận hành trong một quy trình đủ điều kiện. Nguyên liệu không đồng nhất, quy trình canh tác thiếu chuẩn hóa, sơ chế và bảo quản còn thủ công hay thiếu dữ liệu truy xuất đều có thể làm giảm hiệu quả của khâu chế biến phía sau.
Đó cũng là điểm nghẽn đang đặt ra trong quá trình ứng dụng khoa học công nghệ tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi: đầu tư cho một công đoạn chưa đồng nghĩa với việc giải quyết được vấn đề của cả chuỗi.
Tại tọa đàm “Ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong sản xuất, phân phối và phát triển đặc sản, sản phẩm vùng cao” ngày 21/9/2026, ông Phạm Quyết Tiến, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Công nghệ hỗ trợ nông nghiệp, nhận định rằng hiệu quả ứng dụng công nghệ tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn hạn chế do thiếu sự liên kết và đồng bộ trong toàn bộ chuỗi sản xuất.
“Điểm nghẽn lớn nhất không chỉ là thiếu máy móc mà là thiếu hệ thống công nghệ đồng bộ, phù hợp với quy mô và điều kiện từng vùng, từ giống, quy trình canh tác, kiểm soát chất lượng nguyên liệu đến sơ chế, bảo quản, chế biến và truy xuất nguồn gốc.” - Ông Phạm Quyết Tiến - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Công nghệ hỗ trợ nông nghiệp.

Theo ông Tiến, tình trạng sản xuất phân tán, giống và quy trình canh tác chưa được chuẩn hóa khiến chất lượng nguyên liệu thiếu ổn định. Trong khi đó, những hạn chế về công nghệ sơ chế, sấy, bảo quản và chế biến làm gia tăng tổn thất sau thu hoạch. Dữ liệu vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và khả năng kết nối thị trường còn yếu cũng khiến nhiều sản vật, dù có chất lượng tốt và giá trị văn hóa riêng, vẫn chủ yếu được tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu thô, khó tạo ra giá trị gia tăng cao.
Một nghiên cứu của Trung tâm Thúc đẩy phát triển thị trường Khoa học và Công nghệ, Cục Đổi mới sáng tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, thực hiện tại 37 cơ sở với 890 phiếu khảo sát ở 14 tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc, cho thấy 44,3% cơ sở vẫn sử dụng công nghệ thủ công, 52,1% sử dụng công nghệ bán tự động và chỉ 3,6% đạt mức tự động hóa. Nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế về thiết bị chuyên dụng, tính đồng bộ của quy trình, năng lực vận hành và quản trị, cũng như kết nối giữa cơ sở sản xuất với các đơn vị nghiên cứu, chuyển giao công nghệ.
Những con số này cho thấy khoảng cách công nghệ không đơn thuần là câu chuyện “có máy hay chưa có máy”. Vấn đề sâu hơn là máy móc được đặt ở đâu trong toàn bộ quy trình và liệu những mắt xích xung quanh đã đủ điều kiện để thiết bị phát huy hiệu quả hay chưa?

Thực tế tại nhiều vùng cao, miền núi cho thấy sản xuất vẫn còn phân tán, giống và quy trình canh tác chưa được chuẩn hóa, khiến chất lượng nguyên liệu đầu vào thiếu ổn định. Khi nguồn nguyên liệu chưa đồng đều, đầu tư máy móc ở khâu chế biến phía sau cũng khó phát huy đầy đủ hiệu quả.
Những hạn chế tiếp tục bộc lộ sau thu hoạch. Công nghệ sơ chế, sấy, bảo quản còn thiếu hoặc chưa phù hợp, làm gia tăng tổn thất, trong khi chế biến sâu chưa được áp dụng rộng rãi. Ở khâu thị trường, dữ liệu vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng và khả năng kết nối đầu ra vẫn còn hạn chế.
Vì vậy, công nghệ cần được nhìn nhận xuyên suốt toàn bộ chuỗi: giống, canh tác, sơ chế, bảo quản, truy xuất nguồn gốc, thị trường. Ở mỗi khâu, công nghệ phải giải quyết một yêu cầu cụ thể: chuẩn hóa nguyên liệu, giảm tổn thất, duy trì chất lượng, minh bạch nguồn gốc và đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn thị trường.
Bởi vậy, bài toán công nghệ không nên bắt đầu từ câu hỏi “nên mua máy gì?”, mà phải từ câu hỏi “điểm nghẽn nằm ở đâu và công nghệ nào phù hợp nhất để xử lý?”


Nếu “đồng bộ” giúp công nghệ phát huy hiệu quả, thì “phù hợp” là điều kiện để công nghệ được vận hành lâu dài. Một dây chuyền công suất lớn chưa chắc phù hợp với Hợp tác xã (HTX) có vùng nguyên liệu nhỏ; thiết bị hiện đại cũng khó phát huy nếu thiếu nhân lực vận hành và bảo trì.
Theo ông Phạm Quyết Tiến, lựa chọn công nghệ cần bắt đầu từ bài toán thực tế của từng cơ sở, gắn với quy mô vùng nguyên liệu, khả năng đầu tư và trình độ vận hành. Ông đề xuất ba tiêu chí cần ưu tiên: “Vừa sức” về vốn và quy mô; “hợp lý” về hiệu quả và nhu cầu; “đơn giản” trong vận hành, bảo trì và đào tạo. Đây là cơ sở để các HTX, hộ sản xuất lựa chọn công nghệ có thể sử dụng hiệu quả và duy trì lâu dài.

Điều này cũng có thể thấy qua câu chuyện của Hợp tác xã (HTX) Lộc Thúy Quỳnh Farm. Với khoảng 30 ha thanh long ruột đỏ, trước tình trạng quả tươi khó bảo quản, giá cả bấp bênh, HTX đã đầu tư dây chuyền chế biến thanh long thành mì gạo, qua đó kéo dài thời gian bảo quản và mở rộng thị trường.
Từ thực tế này, “vừa sức” không có nghĩa là công nghệ rẻ hay đơn giản, mà là đúng nhu cầu, phù hợp quy mô và có thể mở rộng theo năng lực của cơ sở. Đây cũng là cách để công nghệ không chỉ được đầu tư, mà thực sự được vận hành và tạo ra giá trị.

Xác định đúng điểm nghẽn và lựa chọn công nghệ phù hợp là chưa đủ, trước khi đầu tư cơ sở sản xuất còn phải tính đến quy mô vùng nguyên liệu, công suất thiết bị, chi phí vận hành, sản lượng hòa vốn, giá thành và đầu ra thị trường. Thay vì đầu tư ngay một dây chuyền lớn, các HTX có thể ưu tiên những khâu đang gây tổn thất nhiều nhất như sơ chế, sấy hoặc bảo quản; khi sản lượng, thị trường và năng lực vận hành tăng lên thì tiếp tục mở rộng. Cách làm này vừa giảm áp lực vốn ban đầu, vừa tạo thời gian để người sản xuất làm chủ công nghệ.
Ngoài ra, việc chuyển giao công nghệ cũng cần phải được chú ý bởi quá trình này cần đi cùng với việc chạy thử nghiệm, vận hành máy móc, đo lường hiệu quả để từ đó điều chỉnh quy trình sản xuất cho phù hợp.
Công nghệ vì thế cần được đặt trong cả chuỗi sản xuất. Vùng nguyên liệu được chuẩn hóa giúp ổn định chất lượng đầu vào, sơ chế, bảo quản tốt giúp giảm tổn thất, nguyên liệu được kiểm soát tạo điều kiện cho chế biến sâu, còn tiêu chuẩn hóa và truy xuất nguồn gốc giúp sản phẩm đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường.


Để công nghệ đi vào sản xuất và tạo ra giá trị thực tế, nỗ lực của từng cơ sở không thể tách rời một hệ sinh thái hỗ trợ đồng bộ, từ đầu tư thiết bị, chuyển giao và làm chủ công nghệ đến tổ chức sản xuất, phát triển thị trường và nâng cao năng lực số. Đây cũng là điều kiện để những tiến bộ kỹ thuật không chỉ được “đưa về” cơ sở, mà thực sự được hấp thụ, vận hành và chuyển hóa thành năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng.
Trong thời gian qua, các hoạt động khuyến công, phát triển công nghiệp nông thôn, hỗ trợ đổi mới công nghệ và thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất do Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các bộ, ban, ngành và địa phương triển khai đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực tại khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thông qua hỗ trợ xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, nhiều cơ sở sản xuất từng bước đổi mới phương thức sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và khả năng khai thác giá trị của nguồn nguyên liệu tại chỗ.
Năm 2026, hoạt động khuyến công được định hướng theo hướng có trọng tâm, bám sát lợi thế từng vùng, tăng cường sự gắn kết với các chính sách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Qua đó, chính sách hỗ trợ từng bước chuyển từ tư duy trang bị đơn lẻ sang thúc đẩy đổi mới công nghệ gắn với hiệu quả sản xuất và khả năng tham gia thị trường.

Cùng với hỗ trợ ở khâu sản xuất, Bộ Công Thương chú trọng mở rộng không gian tiêu thụ cho sản phẩm vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số thông qua các hoạt động phát triển thương mại miền núi, kết nối cung cầu và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm địa phương. Cùng với đó, các chương trình phát triển thương mại điện tử ngày càng chú trọng đào tạo kỹ năng số cho HTX, hộ kinh doanh và cơ sở sản xuất, từ xây dựng gian hàng, quảng bá sản phẩm đến bán hàng trên nền tảng số và livestream.
Những hỗ trợ này đang tạo thêm điều kiện để công nghệ không dừng ở khâu sản xuất mà tiếp tục đi vào phân phối và thị trường.
Thực tế tại một số địa phương cho thấy, khi khoa học công nghệ được đặt đúng vào những điểm nghẽn của chuỗi giá trị, hiệu quả tạo ra không chỉ là thay đổi phương thức sản xuất mà còn mở rộng không gian thị trường cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Tại Sơn La, công nghệ cao được gắn với chuẩn hóa sản xuất, quản lý vùng nguyên liệu và chuyển đổi số. Địa phương hiện có 31.662 ha cây trồng áp dụng quy trình sản xuất tốt, 218 mã số vùng trồng, 262 chuỗi cung ứng nông sản an toàn; nông sản được đưa lên 35 sàn thương mại điện tử, với 17 sản phẩm xuất khẩu tới 21 quốc gia, vùng lãnh thổ. Qua đó, công nghệ ngày càng tham gia sâu hơn vào quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc và kết nối thị trường.
Tại Đắk Lắk, HTX Nông nghiệp Dịch vụ Đồng Tiến Ea Kar cho thấy hiệu quả của công nghệ trong thúc đẩy chế biến sâu. Năm 2026, HTX được hỗ trợ đầu tư hệ thống thiết bị phân loại, rang, nghiền, ủ nhiệt, ép bơ và tạo bột ca cao, giúp chuyển từ chủ yếu bán nguyên liệu sang sản xuất bột và bơ ca cao, qua đó nâng khả năng kiểm soát chất lượng và gia tăng giá trị nguyên liệu tại địa phương.
Với miến dong Bắc Kạn, việc đầu tư máy móc, hiện đại hóa quy trình đã góp phần nâng chất lượng sản phẩm truyền thống. Miến dong Bắc Kạn được công nhận OCOP 5 sao, xuất khẩu sang châu Âu và tiếp cận các hệ thống bán lẻ, sàn thương mại điện tử, cho thấy công nghệ có thể tạo thêm dư địa thị trường cho sản phẩm bản địa.

Với chè Shan tuyết Suối Giàng, công nghệ được ứng dụng theo hướng số hóa và minh bạch hóa nguồn gốc. Mã QR giúp truy xuất thông tin về từng cây chè cổ thụ, từ tuổi cây, vị trí đến điều kiện sinh trưởng, qua đó làm rõ giá trị đặc thù của sản phẩm và tăng khả năng nhận diện trên thị trường.
Những thực tiễn trên cho thấy, thước đo hiệu quả của ứng dụng khoa học công nghệ không phải là có thêm bao nhiêu máy móc hay dây chuyền, mà là những thay đổi thực chất trong năng lực sản xuất và giá trị sản phẩm. Với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi phù hợp với vùng nguyên liệu, khả năng vận hành của cơ sở và nhu cầu thị trường; qua đó giúp sản phẩm nâng chất lượng, gia tăng giá trị và đi xa hơn trên thị trường.
Bài: Thúy Mùi
Thiết kế: Thúy Mùi
Bài viết có sử dụng nguồn ảnh tổng hợp từ Internet
Đồ họa: Tạp chí Công Thương

