Quảng Ngãi mở rộng đầu ra cho sản vật vùng đồng bào dân tộc thiểu số


Quảng Ngãi có nguồn sản vật khá phong phú gắn với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Nhiều cái tên đã tạo được dấu ấn trên thị trường như sâm Ngọc Linh, quế Trà Bồng, cà phê Đăk Rve, cùng các sản phẩm từ hồ tiêu, măng và nhiều loại dược liệu bản địa.
Lợi thế về nguyên liệu, khí hậu và tri thức bản địa là rất rõ. Nhưng từ một sản vật có tiếng ở địa phương đến một sản phẩm có thể đứng vững trong siêu thị, trên các sàn thương mại điện tử hay tiến tới xuất khẩu vẫn là một chặng đường dài. Và điểm khó nhất vẫn nằm ở thị trường.
Theo ông Võ Quốc Hùng - Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Quảng Ngãi, thực tế triển khai các chương trình xúc tiến thương mại cho thấy sản phẩm của nhiều cơ sở, hợp tác xã ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vẫn đang vướng một số “nút thắt”.

Trước hết là quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, thiếu ổn định. Không ít sản phẩm có giá trị cao như sâm Ngọc Linh, cà phê hay dược liệu vẫn được sản xuất theo quy mô hộ, phụ thuộc nhiều vào mùa vụ. Điều này khiến các cơ sở, HTX khó bảo đảm sản lượng đồng đều để đáp ứng những đơn hàng lớn và dài hạn của hệ thống phân phối hiện đại.
Một điểm yếu khác nằm ở khâu chuẩn hóa. Bao bì, mẫu mã của một số sản phẩm chưa thực sự hấp dẫn; việc xây dựng mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, hoàn thiện các chứng nhận, phát triển sản phẩm OCOP, sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu (RISEP)… chưa đồng đều. Trong khi đó, đây lại là những điều kiện ngày càng quan trọng nếu sản phẩm muốn bước vào các kênh phân phối chuyên nghiệp.
Địa hình miền núi chia cắt cũng khiến chi phí vận chuyển, bảo quản tăng lên. Khi sản lượng chưa lớn, chi phí logistics càng trở thành gánh nặng, ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành và khả năng cạnh tranh.
Bên cạnh đó là câu chuyện kỹ năng thị trường. Nhiều hộ sản xuất, cơ sở và HTX vẫn quen với cách bán hàng qua thương lái hoặc chợ truyền thống, chưa thực sự thành thạo thương mại điện tử, livestream, quảng bá sản phẩm trên nền tảng số hay chủ động tìm kiếm đối tác ngoài tỉnh.
Những điểm nghẽn ấy cho thấy, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm vùng cao không thể chỉ dừng ở việc đưa hàng đến một vài hội chợ rồi kết thúc. Muốn sản vật địa phương có đầu ra ổn định, phải bắt đầu từ chất lượng sản phẩm, vùng nguyên liệu, bao bì, thương hiệu cho đến kỹ năng bán hàng và khả năng kết nối với những kênh phân phối mới.

Thực tế tại một số HTX, doanh nghiệp của Quảng Ngãi cho thấy xúc tiến thương mại đã mở ra những cánh cửa đầu tiên. Nhưng điều các cơ sở sản xuất cần hơn cả không đơn thuần là có thêm một gian hàng tại hội chợ, mà là sau mỗi lần kết nối có thêm khách hàng, thêm đơn hàng và từng bước hình thành những mối liên kết bền vững.
Câu chuyện của HTX Sản xuất, Kinh doanh, Dịch vụ Nông nghiệp Tổng hợp Đăk Rve là một ví dụ. Theo ông Nông Hồng Sơn - Phó Giám đốc HTX, việc trực tiếp đưa những sản phẩm chủ lực như hồ tiêu, cà phê Đăk Rve đến với nhà phân phối và người tiêu dùng giúp HTX hiểu thị trường hơn, tiếp cận khách hàng nhanh hơn và có cơ hội cải thiện giá bán cho người sản xuất.

Thời gian qua, HTX đã tham gia nhiều chương trình do Sở Công Thương, Hội Nông dân, Liên minh HTX tỉnh Quảng Ngãi tổ chức đưa sản phẩm tới các hội chợ, chương trình OCOP tại Lâm Đồng, Đà Nẵng, Hà Nội, Đắk Lắk, đồng thời từng bước tham gia bán hàng trên các sàn thương mại điện tử.
Từ những chuyến đi ấy, bài toán thị trường cũng dần được nhìn rõ hơn. Muốn bán được nhiều hơn và đi xa hơn, HTX không thể chỉ lo khâu tiêu thụ mà phải trở lại từ đầu chuỗi: liên kết sản xuất với người dân, xây dựng vùng nguyên liệu, đăng ký mã số vùng trồng, duy trì chất lượng sản phẩm OCOP, hướng tới nâng hạng cà phê từ 3 sao lên 4 sao và đẩy mạnh chế biến sâu.
Nếu ở Đăk Rve, câu chuyện là đưa cà phê, hồ tiêu đến gần hơn với thị trường thì tại vùng sâm Ngọc Linh, yêu cầu đặt ra lại là làm thế nào để nâng giá trị của một nguyên liệu vốn đã rất quý.

Ông Hồ Anh Phi - Tổng Giám đốc HTX Sâm và dược liệu Ngọc Linh, xã Măng Ri cho biết, thay vì chủ yếu bán sâm củ, HTX đang hướng nhiều hơn tới chế biến sâu với các sản phẩm như sâm ngâm mật ong, tinh sâm, cao sâm uống liền… Qua chế biến, giá trị của cây sâm được nâng lên, đồng thời sản phẩm cũng thuận tiện hơn đối với nhu cầu sử dụng của người tiêu dùng hiện đại.
Cách đưa sản phẩm ra thị trường cũng đang thay đổi. Bên cạnh các kênh bán hàng trực tiếp, HTX chú trọng truyền thông trên nền tảng số, kể câu chuyện về vùng trồng, cây sâm và con người làm ra sản phẩm. Đây không chỉ là cách bán hàng mà còn giúp người tiêu dùng hiểu hơn về nguồn gốc và giá trị của sâm Ngọc Linh.
Tuy nhiên, để tiến xa hơn, HTX vẫn cần được kết nối với các đơn vị có năng lực chế biến sâu, hoàn thiện tiêu chuẩn để có thể tiếp cận hệ thống siêu thị lớn và tham gia nhiều hơn vào các chương trình xúc tiến thương mại trong nước và quốc tế.
Với quế Trà Bồng, hướng đi cũng đang dịch chuyển rõ từ bán nguyên liệu sang khai thác sâu hơn giá trị của cây quế.
Công ty TNHH Hương Quế Trà Bồng đã phát triển nhiều dòng sản phẩm như quế ống sáo, quế ống điếu, quế lát vuông, quế tăm, quế bột. Phần lá, cành nhỏ hay vỏ vụn trước đây có giá trị thấp cũng được tận dụng để sản xuất tinh dầu, nước lau sàn, nước rửa chén, xịt thơm phòng, nhang quế và các sản phẩm gia dụng khác.

Theo ông Nguyễn Đức Lương - Giám đốc Công ty, cùng với chế biến sâu, doanh nghiệp chú trọng hơn đến bao bì, thương hiệu và câu chuyện văn hóa bản địa gắn với cây quế Trà Bồng để nâng giá trị sản phẩm, từng bước hướng tới những thị trường có yêu cầu cao.
Nhưng để mở rộng sản xuất, doanh nghiệp vẫn cần một vùng nguyên liệu đủ ổn định, các chứng nhận tiêu chuẩn phù hợp, nguồn lực đầu tư công nghệ cũng như thêm cơ hội tham gia những chương trình giao thương, hội chợ quốc tế về gia vị và thực phẩm.
Ba câu chuyện với ba nhóm sản phẩm khác nhau nhưng cùng gặp nhau ở một điểm: thị trường bền vững chỉ có thể hình thành khi cả chuỗi từ vùng nguyên liệu, sản xuất, chế biến, tiêu chuẩn hóa đến phân phối cùng được củng cố.

Từ nhu cầu thực tế của người dân, HTX và doanh nghiệp, Sở Công Thương Quảng Ngãi đang hướng hoạt động xúc tiến thương mại theo cách dài hơi hơn, thay vì tập trung chủ yếu vào các sự kiện giới thiệu sản phẩm.
Theo ông Võ Quốc Hùng, cùng với xây dựng kế hoạch xúc tiến phù hợp từng thị trường, ngành Công Thương sẽ tăng cường lồng ghép nguồn lực của địa phương với Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia; hỗ trợ doanh nghiệp, HTX nâng kỹ năng đàm phán, thương mại quốc tế, thương mại điện tử và bán hàng trên môi trường số.
Các chương trình giao thương liên tỉnh cũng được định hướng theo mục tiêu rõ hơn: kết nối sản phẩm với hệ thống phân phối tại các đô thị lớn, siêu thị, chuỗi cửa hàng, doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu; đồng thời từng bước hoàn thiện các điểm giới thiệu, bán sản phẩm OCOP và sản phẩm đặc trưng của địa phương.
Với những cơ sở có khả năng vươn ra thị trường quốc tế, việc cập nhật các hàng rào kỹ thuật, tiêu chuẩn thị trường và tận dụng cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do cũng trở thành một phần quan trọng của quá trình hỗ trợ.

Sự dịch chuyển ấy trước hết là chuyển từ tư duy “đem sản phẩm đi trưng bày” sang chuẩn bị cho sản phẩm đủ điều kiện bước vào thị trường. Một sản phẩm dù đặc sắc đến đâu nhưng chất lượng chưa ổn định, bao bì chưa phù hợp, chưa truy xuất được nguồn gốc hay chưa đáp ứng yêu cầu của nhà mua hàng thì cơ hội ký được những hợp đồng lớn vẫn rất hạn chế.
Bởi vậy, hỗ trợ chế biến, chuẩn hóa sản phẩm, hoàn thiện bao bì, truy xuất nguồn gốc, phát triển OCOP, RISEP… phải đi trước hoặc song hành với xúc tiến thương mại.
Khi sản phẩm đã đủ “độ chín”, bước tiếp theo là kết nối những chuỗi tiêu thụ dài hạn. Thay vì chỉ bán được một lượng hàng trong vài ngày hội chợ, mục tiêu là tạo cơ hội để HTX, cơ sở sản xuất gặp được hệ thống siêu thị, chuỗi cửa hàng thực phẩm, doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu và tiến tới những thỏa thuận tiêu thụ ổn định.
Cùng với kênh phân phối truyền thống, môi trường số đang mở thêm một con đường đáng kể cho sản vật vùng cao. Khi người dân và HTX có thể tự giới thiệu vùng nguyên liệu, kể câu chuyện về sản phẩm, livestream bán hàng hay tham gia các sàn thương mại điện tử, khoảng cách địa lý không còn là rào cản lớn như trước.
Đây cũng là hướng đi đã được nhiều chương trình quốc tế quan tâm. Sáng kiến Mountain Partnership Products của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) cho thấy những sản phẩm đặc trưng vùng núi như cà phê, mật ong, thảo dược, gia vị hay hàng thủ công có thể tạo ra giá trị kinh tế tốt hơn nếu được hỗ trợ đồng bộ về chuỗi giá trị, xây dựng thương hiệu và tiếp cận thị trường.
Kinh nghiệm từ Nhật Bản cũng cho thấy, sản vật địa phương không chỉ được bán bằng giá trị sử dụng mà còn bằng lịch sử, văn hóa, nguyên liệu và phương thức sản xuất của từng vùng. Khi câu chuyện bản địa được kết nối với du lịch, thương mại điện tử và xuất khẩu, một sản vật quen thuộc có thể trở thành sản phẩm mang thương hiệu của cả vùng đất.
Với Quảng Ngãi, hướng đi này đặc biệt có ý nghĩa đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nơi có nhiều sản vật quý, tri thức bản địa phong phú nhưng quy mô sản xuất và khả năng tiếp cận thị trường còn hạn chế.
Từ sâm Ngọc Linh, quế Trà Bồng đến cà phê, hồ tiêu, măng Đăk Rve…, đích đến cuối cùng không chỉ là bán được thêm một vài lô hàng. Quan trọng hơn là tạo ra được một chuỗi sản xuất, tiêu thụ đủ bền để người dân yên tâm gắn bó với vùng nguyên liệu, doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư chế biến và sản phẩm có thể đứng vững trên thị trường.

Bài: Hoàng Dương
Ảnh: Nhân vật và đơn vị cung cấp
Thiết kế: Minh Trí
Hình ảnh đồ họa có sử dụng AI

