Thời hưng thịnh
Mai Động xưa là khúc ruột rà gắn bó với kinh thành Thăng Long, nhưng cũng phải mãi đến khi cụ Tam Trinh tìm đến (tên cụ giờ được đặt cho một con đường lớn trên địa bàn phường Mai Động, phố Nguyễn Tam Trinh, nhưng cụ họ gì vẫn còn chưa ngã ngũ), cảm động trước địa thế đất đẹp, mới mở làng, lập trại, tập trung dân cư xung quanh thành vùng đất trù phú. Cũng có người bảo, thời ấy, dân ta chưa có họ đầy đủ, nên chẳng ai rõ quê quán cụ Tam Trinh ở đâu. Nhưng chắc một điều thế này, cụ được phong là Thành Hoàng làng, vì đã có công mở đất, dạy nghề làm đậu phụ cho người dân và dạy cả võ vật cho trai tráng trong làng. 2 món nghề của cụ Tam Trinh không chỉ làm lo đủ đầy được cho cuộc sống của người dân Mai Động, mà còn được họ nâng thành vốn quý của Hà Nội. Đặc sản đậu Mơ thì thế hệ mà tuổi đời trên dưới 50 chắc không lạ, tuy thời buổi này rất khó kiếm. Cũng như thế với môn võ vật, con cháu cụ Tam Trinh ngày nào còn lăn xả trên những đám bùn thửa ruộng mới gặt, hừng hực khí thế trong đoàn quân của bà Trưng, bà Triệu đánh giặc ngoại xâm, giờ chỉ còn thấy thấp thoáng trong những dịp lễ hội.
Hội vật làng Mai Động là một trong không nhiều những lễ hội truyền thống của Thăng Long được duy trì đều đặn, bất chấp những thay đổi giá trị thời cuộc. Tôi là công dân của quận Hai Bà Trưng, lại cũng là công dân của một phường hàng năm có lễ hội tưởng nhớ Hai Bà Trưng được tổ chức. 5 năm, 10 năm rồi, dịp hội chùa nào cũng vậy, tiết mục biểu diễn thi đấu vật luôn là cao trào của lễ hội. ấy mới chỉ là chuyện đem chuông đi gõ xứ người. Còn về làng Mai Động, khai Xuân, trong 3 ngày hội làng mùng 4, 5, 6, mới thực sự rung động trước vẻ đẹp của môn thể thao nông nghiệp, mới "vỡ" ra được nhiều điều. Hội vật làng Mai Động, tôi được nghe kể qua sự trân trọng của cụ Thịnh coi đình, hình dung được một Mai Động liêng biêng trong tiếng trống chiêng rộn rã, với bạt ngàn người từ khắp nơi về dự hội, với vĩ đại kiệu quan rước cụ Tam Trinh từ Nghè (nơi cụ nghỉ ngơi xưa kia) sang Đình (nơi cụ làm việc), qua Mơ Táo (nơi cụ hay đến chơi), đi ra đường Mai Động, Nguyễn Tam Trinh, vòng trở vào làng rồi rước kiệu về đình sau cỡ hơn 2 tiếng đồng hồ con cháu tiền hô hậu ủng. Phần "lễ" luôn là dịp để con cháu Mai Động báo công với cụ Thành Hoàng, rằng từ ngày mở đất đến nay, chưa khi nào quên chấn hưng sự nghiệp. Còn phần "hội", thứ tinh tuý nhất trong 3 ngày chiêng trống mở cờ, là con cháu Mai Động, từ già đến trẻ, có dịp so tài, biểu diễn, ôn lại sức vật ngã trâu thuở nào. Cụ Thịnh kể, hội làng là dịp để người dân mai Động tạm gác lại mọi khó khăn, buồn khổ, thất bại trong cuộc sống. Để chuẩn bị cho 3 ngày vui này, ngoài các lò vật tên tuổi từ các địa phương Bắc Ninh, Thái Bình, hải Phòng... về tham dự, trai tráng Mai Động đã nỗ lực rèn luyện từ cách đó cả tháng trời. Từ đứa trẻ biết chăn trâu đến những cụ già da đỏ au gõ trống vang dền... tranh đua luyện tập. Bãi đất trước đình, sân kho hợp tác xã, thửa ruộng trống, đêm nối ngày, ngày tiếp đêm, tiếng huỳnh huỵch phì phò rung rinh mặt đất. Luyện múa xe đài, luyện những thế hiểm của Mai Động, xẻ xườn, nằm đất, quật lưng... ý chí bảo tồn danh tiếng cho làng vật khiến những đô "cục cưng" phải... thanh tịnh cách ngày hội cả tháng trời. Mùng 4 khai hội, sáng rước kiệu, chiều hội vật bắt đầu. Kể từ lúc đó và tới 3 ngày sau, bốn phía tường quanh sân đình, toàn bộ cây cao cây thấp, không lúc nào vắng bóng người, im tiếng hò reo cổ vũ. Đô Tư Đẩy, đô Đăm, đô Năm Phi... là những niềm tự hào của làng vật Mai Động. Lễ khai hội nào mà được đô Tư Đẩy xe đài, không cứ gì các đô khác, cánh phụ nữ cứ gọi là "vỗ tay rầm rầm" trước thân hình cường tráng, trắng hồng, săn chắc như lực sĩ thể hình thời nay. Sự khác biệt duy nhất, danh hiệu xe đài đẹp nhất làng và vóc dáng lực sĩ ấy, đô Tư Đẩy đã rèn luyện từ những tháng ngày hì hụi lao động sau lưng trâu và từ truyền thống ngàn năm văn vật của làng. Có đô vật thành danh đã quý, nhà nào của Mai Động mà con cháu 2, 3 đời ham và biết vật còn được trọng vọng hơn nhiều...
và nguy cơ “mai một"
Đô Tư Đẩy- hôm tôi tìm về cùng bác Hoà cán bộ văn hoá phường Mai Động- tóc đã trắng như cước. Năm ngoái, hội làng thiếu người, vẫn phải vời đến ông già xấp xỉ 70 này ra "xe đài" để lấy không khí. Sau vụ ấy, đô Tư Đẩy đau người mất mấy hôm, nhưng "lo nhất là chưa nhìn thấy trong đám con cháu đứa nào có thể kế nghiệp". Nỗi lo của đô Tư Đẩy cũng chính là băn khoăn chung của những ai đã từng biết đến một Mai Động đất vật ngày nào. Gần 1,6 vạn dân của Mai Động, của con cháu bà Trưng bà Triệu thuở mở làng bằng tinh thần thượng võ, tiếc quá, đếm được số đô vật trên đầu ngón tay, thậm chí, khắt khe tính chuyên nghiệp, đô trẻ nhất cũng đã ngoài tứ thập. Vì sao đấy? Đất võ rộng hơn cây số vuông này, bị bao quanh bởi những con phố bụi, vẫn giữ được nét "làng" rất thi vị, có mái đình cây đa và lối đi uốn lượn, nhưng tôi chăm chú gần 15 phút cảnh 2 chú nhóc hùng hục vật nhau trước cửa đình, càng về cuối càng "đánh" lộn bậy, và cuối cùng là... chửi nhau, thì buồn quá. Những ngày lễ hội hàng năm, các lò vật địa phương vẫn về dự, bốn bức tường xung quanh đình, cây lớn cây bé vẫn náo nức khán giả, nhưng chỉ qua như gió thoảng. Mai Động đã không tiếp nối được truyền thống bằng những lò vật gia đình. Những ngón nghề bí truyền đem lại tiếng tăm cho Mai Động, giờ ngoài đô Tư Đẩy nhớ không nhiều, đang bị lãng quên. 20 tuổi đổ xuống, các bậc cha mẹ bận tâm nhiều đến sách vở của con em mình hơn là cổ xuý cho việc học hỏi những thế quật, thế nhấc. Nhỉnh hơn chút nữa đã ý thức được một xã hội hối hả quanh mình không có nhiều thời gian cho vật lộn. Vậy là sự lựa chọn cuối cùng cho lễ hội là các đô... U40, nhưng với thoả thuận là chỉ "ôn bài " trước hội 2, 3 ngày chứ không giữ mình... thanh tịnh nữa(!). Thế nên hội vật được tổ chức ở Mai Động bây giờ, đô Mai Động không còn giữ được ưu thế chủ nhà. Các keo vật cũng không còn được bắt đầu bằng những điệu múa xe đài thần thái, mà là lăn xả, là cố kiếm lấy cái giải to cho đỡ mất công… cởi trần trước bàn dân thiên hạ. Chuyện thật đấy, hội vật, sới vật, những thế vật hay không còn là niềm mong đợi cháy bỏng của người dân Mai Động. Ngay cả con trai của đô Tư Đẩy, dáng vóc triển vọng giống bố, nhưng được hỏi về vật, cũng chỉ ngượng nghịu" em còn đang đi học, với lại có vật cũng chẳng biết vật với ai".
Kể ra thời đại vi tính, tiếng Anh này mà suốt ngày mình trần huỳnh huỵch trên đất cát cũng có gì đó khó đòi hỏi. Nhưng cứ để thời gian bào mòn một môn thể thao truyền thống mà ít ra, nó là một phần khởi nguồn của ngày hôm nay, không phải công dân Mai Động, tôi cũng thấy tiếc. Nhưng tiếc thôi thì làm gì được, cũng giống như một đề xuất của công dân làng lên cơ quan thể thao cấp thành phố mấy năm trước, "quy hoạch" làng, lựa chọn đô để mở sới, vừa bảo tồn được văn hóa làng, hay may mắn có nhân tài, góp cho sự nghiệp thể thao chung. Đề xuất đi, hồi âm chẳng thấy về.../.
