Molybdebite cho công nghệ xanh

Molybdenum thường được biết đến là một nguyên liệu bổ sung để làm cho thép cứng hơn, chống gỉ và một số ứng dụng khác. Ngày nay, các nhà khoa học ở Thuỵ Sỹ và Mỹ sử dụng disulfide molybdenum hay còn g

1. Cảm biến bằng molybdebite cho máy ảnh kỹ thuật sốBottom of Form

Từ 2011, một nhóm nghiên cứu của Trường Bách khoa Liên bang Lausanne Thụy Sỹ (EPFL) đã nghiên cứu ra những thuộc tính bán dẫn đáng ngạc nhiên của molybdenite có thể được ứng dụng cho một loạt những ứng dụng công nghệ. Các nhà khoa học của Lausanne quan tâm nghiên cứu tiềm năng của molybdenite trong bộ cảm biến hình ảnh - một cấu thành quan trọng của máy ảnh kỹ thuật số.

Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển (R&D Magazine) giải thích rằng, tất cả camera kỹ thuật số hiện nay có một bộ cảm biến silicon, bề mặt của cảm biến này là một chất bán dẫn, chất này phản ứng với ánh sáng và tạo ra quá trình sạc tích điện, rồi điện này được dẫn tới phần mềm (filmware) của camera để xử lý. Hiệu quả của quá trình này tùy thuộc cần bao nhiêu ánh sáng để có thể sạc tích điện. Sử dụng molybdenite để thay thế silicon, nhóm nghiên cứu EPFL đã tạo ra một mẫu chuẩn của một bộ cảm biến hình ảnh, có độ nhạy ánh sáng gấp 4 lần công nghệ hiện đang sử dụng.

Nếu nghiên cứu của EPFL thành công, thì nhóm này có thể phát triển camera kỹ thuật số có độ nhạy ánh sáng gấp 5 lần so với những công nghệ hiện có.Những camera như vậy có thể mở ra một lĩnh vực rộng lớn cho chụp ảnh ban đêm hoặc chụp ảnh nơi ánh sáng yếu, mà không cần những kỹ thuật khuếch đại tạo ra tiếng ồn, làm giảm tốc độ chụp hoặc sử dụng đèn flash. Một cách đơn giản, người ta có thể chụp ảnh với ánh sáng đêm có sao bằng camera này.

Thật không có lời nào nói thêm hơn là đợi công nghệ này tìm đường ra thị trường.

2. Molybdebite cho tách hydrogen từ nước

Tạp chí Nanowerk đưa tin: nghiên cứu sinh Mark Lukowski và Phó Giáo sư Song Jincủa Trường Đại học Wisconsin-Madison giới thiệu một cấu trúc chất xúc tác mới, có thể tạo điều kiện sử dụng điện năng để sản xuất ra khí hydrogen từ nước - một qui trình được coi là quan trọng vì hydrogen là nhiên liệu không gây ô nhiễm môi trường, không có chứa các bon để tích năng lượng liên tục từ năng lượng gió và năng lượng mặt trời.

Thông thường, platinum được sử dụng để tạo ra phản ứng sản sinh ra hydrogen, nhưng các nhà nghiên cứu lại tránh sử dụng platinum bằng cách phủ cấu trúc nano của disulfide molybdenum lên một đĩa graphite rồi xử lý bằng lithium. Nanowerk cho hay, khi disulfide molybdenum phát triển trên nền graphite thì hợp chất này là một chất bán dẫn nhưng lại mang tính kim loại sau khi được xử lý với lithium. Trong giai đoạn hai này, hợp chất làm tăng các thuộc tính xúc tác.

Giáo sư Song Jin cho rằng, trong khi chất xúc tác mới vẫn còn chưa có hiệu quả để sản sinh ra hydrogen như platinum, thì hợp chất này vẫn có giá trị bởi nó bắt đầu cho việc chuyển hướng sử dụng những nguyên liệu thông dụng, không khan hiếm và đắt đỏ như platinum.Mark Lukowski và Song Jin nhận được tài trợ từ Chương trình Khoa học Năng lượng Cơ bản của Bộ Năng lượng Mỹ và hy vọng tiếp tục nâng cao qui trinh này.

Một lần nữa, các nhà nghiên cứu không cho biết khi nào quy trình này có thể triển khai trong thực tế.