DNNN đã chi phối được các ngành, lĩnh vực then chốt và sản phẩm thiết yếu của nền kinh tế, nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, DNNN cũng còn nhiều mặt hạn chế, yếu kém, có mặt rất nghiêm trọng như Nghị quyết Trung ương 3, khóa IX của Đảng đã nhận xét: “Quy mô còn nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất hợp lý, chưa thật sự tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt; nhìn chung, trình độ công nghệ còn lạc hậu, quản lý còn yếu kém, chưa thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong SXKD; kết quả SXKD chưa tưng xứng với các nguồn lực đã có và sự hỗ trợ, đầu tư của Nhà nước; hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, nợ không có khả năng thanh toán tăng lên, lao động thiếu việc làm và dôi dư còn lớn”. Ngoài những mặt yếu kém mà Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX đã đánh giá, thực tế DNNN còn nhiều bất cập cần phải giải quyết càng sớm, càng tốt. Sau đây là một số bất cập của DNNN mà Nghị quyết 3 khóa IX của Đảng chưa đề cập tới.
DNNN được đề cập ở đây là những tổng công ty được thành lập theo quyết định số 90, 91 của Chính phủ. Hiện nay, cả nước có 18 tổng công ty 91 và khoảng 90 TCT 90, nhưng tổng số vốn Nhà nước tại các DNNN là 214 nghìn tỷ đồng, nhưng vốn của các tổng công ty Nhà nước chiếm tới 174 nghìn tỷ đồng, trong đó các tổng công ty 91 là 147 nghìn tỷ đồng, đặc biệt chỉ riêng ba tổng công ty Dầu khí, Điện lực, Bưu chính viễn thông đã nắm giữ 113 nghìn tỷ đồng.
2. Thế độc quyền của các DNNN.
Thế độc quyền của các DNNN đã được dư luận xã hội, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác kiến nghị rất nhiều. Các phương tiện thông tin đại chúng đã từng đưa: Chưa có ngành nào mà sức ép của người tiêu dùng, doanh nghiệp đòi hỏi phải phá thế độc quyền như ở ngành viễn thông… Đến 2010, ngành Điện sẽ hết độc quyền? Hàng không tư nhân bao giờ thành hiện thực?
Sự độc quyền của các DNNN không chỉ ở mấy ngành trên, mà còn phát triển trong nhiều lĩnh vực, trong nhiều ngành và ở các cấp. Chính sự độc quyền của các DNNN đã làm cho nền kinh tế thiệt nhiều hơn là lợi. Thiệt nhất là người tiêu dùng trong nước buộc phải dùng sản phẩm giá cao và chính các DNNN độc quyền đó càng ngày càng “ì” hơn, tính năng động giảm đi. Do lợi thế độc quyền, các DNNN kém tính cạnh tranh dẫn đến việc mất thị trường, thậm chí ngay cả thị trường trong nước. Mặt khác, Nhà nước đầu tư nhiều, nhưng hiệu quả mang lại không tương ứng và tốc độ tăng trưởng luôn thấp hơn các thành phần kinh tế khác. Nếu nguồn lực Nhà nước đầu tư và những chính sách ưu đãi đó dành cho các thành phần kinh tế khác thì hiệu quả mang lại cho nền kinh tế nước nhà chắc chắn cao hơn nhiều.
3. DNNN càng “to” thì tiêu cực càng lớn.
Những vụ tiêu cực, thất thoát tài sản, tiền của lớn được dư luận xã hội và báo chí tốn nhiều giấy mực nhất thì thường xảy ra ở các tổng công ty nhà nước.
Tuy chưa có số liệu phân tích cụ thể, nhưng theo một bài báo dẫn lời một cán bộ Thanh tra Chính phủ thì sai phạm về kinh tế tại các tổng công ty 90, 91 chiếm phần lớn trong các sai phạm mà toàn ngành Thanh tra đã phát hiện. Xét về doanh số, giá trị sản xuất và đóng góp cho nền kinh tế thì Tổng công ty Dầu khí Việt Nam là Tổng công ty 91 mạnh nhất nước. Tuy nhiên, đây lại là Tổng Công ty dẫn đầu về số bị can (18 người và vẫn tiếp tục thêm) trong một đường dây tham ô đặc biệt nghiêm trọng. Chỉ qua việc thực hiện 2 dự án thuộc loại nhỏ và trung bình, 8 bị can, trong đó có một nguyên Phó Tổng Giám đốc đã làm thất thoát và chiếm đoạt 54,7 tỷ đồng. Trước đó, tại Tổng Công ty lớn thứ hai cả nước - Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông (VNPT) - cũng đã xảy ra hàng loạt sai phạm, trong đó có những sai phạm diễn ra tại một số đơn vị thành viên lớn như Bưu điện Hà Nội. Trong số hàng chục bị can của vụ án, có hai vị giám đốc bưu điện tỉnh đã bị bắt.
Đến lúc này, Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN) - Tổng Công ty lớn thứ 3 - đang được đánh giá là còn trong sạch hơn. Nhưng vụ nhập và lắp đặt đồng hồ đo điện điện tử cũng làm dư luận đặc biệt quan tâm. Hiện tại, Giám đốc và một phó giám đốc Công ty Điện lực Tp Hồ Chí Minh bị đình chỉ công tác.
Dẫu vậy, tham ô, lãng phí, thất thoát trong dự án đầu tư, cải tạo lưới điện Hà Nội, Hải Phòng... cũng không nhỏ. Có người cho rằng, chỉ có qua thanh tra mới có thể khẳng định được EVN có sai phạm, tham nhũng hay không, vì số dự án của Ngành này được thanh tra trong thời gian qua là ít. Nhiều người còn nhớ, trong vụ mua bán lòng vòng 4.000 tấn thép đường dây 500 kV trước đây, lúc đó Bộ trưởng Năng lượng cùng 1 Thứ trưởng, 2 phó tổng giám đốc đã bị hầu toà.
Còn tại Tổng Công ty Hàng không Việt Nam, số tiền tham ô của một thành viên chủ chốt tại Tổng Công ty này có khả năng đạt mức kỷ lục trong các vụ án tham ô đang được điều tra. Đó là chưa kể đến những khuất tất khác về đầu tư, tài chính ở Tổng Công ty này sẽ được cơ quan thanh tra tiếp tục làm rõ. Có cả lãnh đạo một cụm cảng tự tử và nhiều người khác bị kỷ luật…
Trước đây, những tổng công ty lớn như Seaprodex, Dâu Tằm Tơ, Cà phê, Xi măng, Hàng hải... cũng đều đã “có chuyện” khi cơ quan thanh tra hoặc cơ quan điều tra “viếng thăm”,
Kết quả thanh tra cho thấy, tham nhũng không chừa bất cứ nơi nào, từ các đơn vị rất mạnh, rất giàu, đang “phất” hay thuộc loại “từ từ mà tiến”, cho tới những đơn vị đang đi đến phá sản. Sự việc đang diễn ra ở Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị (HUD), ở đơn vị thành viên của Vinaconex, ở Seaprodex... là những ví dụ sinh động.
Trong cuộc khảo sát do WB tiến hành từ tài liệu “Chống tham nhũng ở Đông á” (2004) đã cho thấy: qui mô doanh nghiệp càng lớn, tình trạng tham nhũng càng khó kiểm soát và điều này đã làm gia tăng đáng kể đến chi phí kinh doanh và làm giảm đi sức cạnh tranh của các tập đoàn.
4. Trình độ của cán bộ lãnh đạo của DNNN chưa đáp ứng yêu cầu.
Năng lực lãnh đạo các DNNNchưa đáp ứng yêu cầu đề ra nên hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp. Điều này dẫn đến việc Nhà nước đã có chủ trương cho DNNN thuê tổng giám đốc. 5 DNNN áp dụng thí điểm mô hình thuê tổng giám đốc trong đợt đầu tiên gồm các tổng công ty: Công nghiệp ôtô Việt Nam, Thủy tinh và Gốm xây dựng, Thiết bị kỹ thuật điện, Công nghiệp Tầu thủy Việt Nam và Tổng Công ty Xây dựng Sông Hồng.
Đây là một chủ trương lớn trong công tác đổi mới, sắp xếp DNNN là tách bạch hoàn toàn ranh giới giữa người đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước với người điều hành doanh nghiệp bắt đầu thành hiện thực.
Nhưng đề án thuê tổng giám đốc cho DNNN hiện nay, theo các chuyên gia thì đang gặp phải khó khăn cả về cơ chế lẫn con người và nhìn chung, việc “chọn mặt gửi vàng” của cả 5 doanh nghiệp đều khó khăn.
5. Cạnh tranh thu hút nhân sự thì DNNN yếu thế.
Trong cuộc chạy đua thu hút nhân lực, các doanh nghiệp nhà nước đang chịu nhiều thua thiệt so với các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, do phải tuân thủ những quy định bất hợp lý, cứng nhắc về chế độ tiền lương, tiền thưởng... Chính vì vậy, sự chuyển dịch nhân sự trên thị trường phần lớn là theo chiều từ các DNNN sang các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tiền lương của một cán bộ trong DNNN dù rất có năng lực, nhưng vẫn chỉ được tăng dần theo thâm niên làm việc, chức vụ... dù họ có cống hiến nhiều hay ít. Điều này khiến ý chí phấn đấu của họ bị mòn mỏi. Thí dụ, có DNNN thuê các chuyên gia nước ngoài với giá lên đến 1.000 USD/ngày để hướng dẫn kỹ thuật cho các cán bộ của mình. Thế nhưng khi những cán bộ này đã đạt trình độ kỹ thuật, tay nghề cao, đáp ứng được yêu cầu... thì thu nhập lại vẫn như cũ.
6. Chưa có mô hình tổ chức đảng thống nhất.
Hiện nay, mô hình tổ chức đảng bộ cơ quan tổng công ty vẫn còn nhiều vấn đề bất cập chưa xử lý được. Các tổ chức cơ sở đảng DNNN thực hiện theo nhiệm vụ quy định theo Quy định 96, nhưng đảng ủy cấp trên trực tiếp lại thực hiện theo Quy định 98, nên rất hạn chế trong việc giải quyết những vấn đề vướng mắc về nội dung lãnh đạo nhiệm vụ chính trị giữa cấp ủy với HĐQT và Tổng Giám đốc. Tổ chức đảng trong DNNN có thể trực thuộc nhiều tổ chức đảng khác nhau như, Đảng ủy cơ quan Bộ, Đảng ủy Khối Cơ quan Kinh tế TW. Đảng ủy Khối Công nghiệp Hà Nội, Đảng bộ tỉnh nơi DNNN có trụ sở...Công đoàn thì có Công đoàn Công nghiệp Việt Nam, Công đoàn cơ quan Bộ...
7. Cơ cấu tổ chức quá cồng kềnh.
DNNN thường cố gắng thiết lập một cơ cấu tổ chức hoàn thiện với nhiều phòng, ban chức năng, thế nhưng, không tạo được mối liên hệ mật thiết giữa các bộ phận, hoặc nếu có thì lại rất lỏng lẻo. Hệ quả là các bộ phận này hoạt động mang tính cục bộ, tinh thần trách nhiệm kém, hay đổ trách nhiệm cho nhau. Cũng do cách quản lý như khi còn quy mô nhỏ, hệ thống thông tin trong doanh nghiệp thường được phổ biến ở dạng “truyền miệng”, “rỉ tai” từ một vài cá nhân, nhóm hoặc bộ phận, dẫn đến việc các cấp quản lý ra quyết định dựa trên những thông tin không chính thức, không phù hợp với thực tế...
Thêm vào đó là phương thức trả lương không có tiêu chí rõ ràng trong việc đánh giá kết quả công việc của nhân viên và trả lương cho họ một cách tương ứng mà chủ yếu dựa vào cảm tính và các mối quan hệ “ngoài công việc”.
Một số nguyên nhân
Những hạn chế, yếu kém của DNNN có nguyên nhân khách quan, nhưng chủ yếu là do những nguyên nhân chủ quan: chưa có sự thống nhất cao trong nhận thức về DNNN, về sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN; nhiều cơ chế, chính sách không phù hợp; quản lý nhà nước đối với DNNN cón nhiều yếu kém...
1. DNNN được thành lập bởi quyết định hành chính.
Nhiều DNNN được hình thành dựa trên các quyết định hành chính nên thực chất quá trình hình thành tổng công ty là quá trình “thu gom” lắp ráp một cách cơ học các doanh nghiệp đã tồn tại trước đó có cùng ngành nghề, lĩnh vực, sản phẩm, đối tượng khách hàng và thị trường…
Đồng thời Hội đồng quản trị cũng có vai trò rất mờ nhạt, thực chất chỉ là cấp trung gian giữa tổng giám đốc và cấp trên, chưa có quyền chủ động nên chưa đảm bảo thể hiện được vai trò của bộ máy hoạch định chiến lược cho toàn tổng công ty.
Bên cạnh đó, cũng vì mối liên kết tổng công ty và các doanh nghiệp thành viên vẫn theo kiều mệnh lệnh hành chính nên quan hệ giữa hai đối tượng này là quan hệ cấp trên - cấp dưới, chưa phải quan hệ giữa người đầu tư và doanh nghiệp được đầu tư, chưa dựa trên quan hệ phân phối lợi ích.
Và khi mà tổng công ty không phải là người đầu tư vốn cho các đơn vị thành viên, không có sự phối hợp về tài chính với các doanh nghiệp thành viên do đa số là hạch toán độc lập, thì vai trò “người cầm đầu” của tổng công ty sẽ rất yếu và thực tế là trong số 18 tổng công ty 91 đã được thành lập và hoạt động, rất ít tổng công ty làm tốt được vai trò phân công sản xuất, điều phối tài chính giữa các đơn vị thành viên, dẫn đến hiệu quả hoạt động chung của các tổng công ty chưa cao.
Có người cho rằng, việc hình thành các TCT nhà nước là duy ý chí… Như có TCT thành lập không theo những quy định pháp luật. Có TCT 91 được thành lập mà vốn ban đầu theo sổ sách khoảng 15 tỷ (nếu trừ nợ đi còn khoảng 8 tỷ) và sau đó Nhà nước phải “rót” cho hơn 20 tỷ để tồn tại. Do “đẻ non”, sau vài năm họat động “rút” xuống TCT 90. Xuống “90” vẫn không tồn tại được (có năm doanh thu chưa nổi 10 tỷ đồng) nên phải sáp nhập vào một TCT khác.
2. Hình thành nhiều mô hình kinh tế không theo quy luật.
Có lần trao đổi với một quan chức cao cấp của Ban Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp về vấn đề “Dựa trên cơ sở khoa học nào để tiến hành thí điểm thuê tổng giám đốc và cổ phần hóa tổng công ty”? Câu trả lời là “cứ làm rồi rút kinh nghiệm”. Và hiện nay vấn đề hình thành các tập đoàn kinh tế đang được dư luận quan tâm giống như TCT 90. 91 của hơn 10 năm về trước.
Kể từ khi hình thành các TCT 90, 91 đến nay, Đảng và Chính phủ đã cố gắng phát huy loại hình kinh tế nhà nước này và luôn tìm thêm những mô hình kinh tế mới như Công ty mẹ - Công ty con; cổ phần hóa tổng công ty và để xây dựng các “bệ phóng” cho nền kinh tế khi hội nhập, Chính phủ đã cho xây dựng đề án thành lập 3 tập đoàn kinh tế mũi nhọn là dầu khí, điện lực và bưu chính viễn thông và các ngành dệt may, xi măng, than cũng được thí điểm làm theo mô hình này. Thế nhưng, ngoại trừ đề án của Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông (VNPT) vừa được phê duyệt, nhiều đơn vị khác đang rất lúng túng trong tổ chức lại tổng công ty theo mô hình tập đoàn kinh tế.
Thế nhưng, tập đoàn kinh tế là gì? Có đơn giản là một bài toán cộng kiểu số học (“nông dân 1 + nông dân 2 + nông dân 3... nông dân N = tập đoàn sản xuất”) với tất cả những yếu kém, bất hợp lý, yếu tố dẫn đến thua lỗ... cá lẻ tập hợp thành “tập đoàn sản xuất mạnh”?
Tập đoàn kinh tế ở các quốc gia trên thế giới đều được hình thành một cách hết sức tự nhiên từ các quá trình tái cấu trúc thông qua các vụ hợp nhất, sáp nhập, thôn tính, mua lại và giải thể công ty với mục đích là sau đó tất cả cùng làm tăng giá trị tập đoàn theo kiểu 1+1=10. Nhưng ở Việt Nam, còn thiếu quá nhiều nền tảng thể chế cần thiết của một nền kinh tế thị trường để các tập đoàn ra đời theo đúng qui luật.
Nhưng các nhà hoạch định chính sách thì lại mong muốn Việt Nam có những tập đoàn mạnh đủ sức đương đầu với những thách thức trong quá trình hội nhập. Có ý kiến cảm thông phần nào cho chủ trương hình thành ồ ạt một số tập đoàn kinh tế, bất chấp những qui luật tự nhiên vốn có, nhưng ý kiến khác thì khẳng định, cho dù có muốn cố gắng thông cảm với cách làm “kiểu Việt Nam” hay gì gì đi nữa thì về mặt bản chất, để tồn tại, chúng cũng không thể khác với các tập đoàn kinh tế trên thế giới.
Như quyết định của Chính phủ trong đề án thành lập Tập đoàn Bưu chính Viễn thông chẳng hạn, trên cơ sở “sắp xếp, tổ chức lại” tổng công ty và các đơn vị thành viên (chứ không phải bằng các quá trình mua lại, hợp nhất hay thôn tính lẫn nhau trên cơ sở kinh tế) và hầu hết 100% vốn điều lệ ở những công ty trong tập đoàn là phần của Nhà nước, những công ty ít quan trọng hơn là trên 50% và ít quan trọng nhất thì dưới 50%.
Các tỉ lệ này cũng chẳng biết dựa trên một cơ sở khoa học và thực tiễn nào, chỉ biết nó ấn tượng nhất bởi những đại lượng toán học số lớn: luôn luôn phải trên 50%, thậm chí đến 100% về phía Nhà nước, theo một lối tư duy lạc hậu là thể hiện vai trò chủ đạo của Nhà nước qua những con số định lượng.
Sau nhiều năm thảo luận, ý kiến hay nhất và có lẽ là “thú vị” nhất là từ phía các chuyên gia nước ngoài, tựu trung lại cũng chỉ là lời khuyên người trong cuộc hãy “tỉnh táo” trong việc tập đoàn hóa, trước mắt là mục tiêu thành lập sáu tập đoàn kinh tế. Cơ sở thực tiễn duy nhất cho lời khuyên này là Trung Quốc “khổng lồ” như thế, nhưng cũng chỉ mới có 3-4 tập đoàn kinh tế”.
Có lẽ chưa hết bất cập này lại tiếp những bất cập khác chờ đón chúng ta, nếu như không có những cách làm mới, tư duy mới, con người mới có năng lực để đưa ra những đề án kinh tế lớn.
