Một số đề xuất Tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư công nghệ cao vào Thành phố Hà Nội

ThS. ĐỖ VĂN TRƯỜNG (Văn phòng Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội)

TÓM TẮT:

Mặc dù Thành phố Hà Nội sẽ tạo mọi điều kiện cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) lựa chọn Hà Nội làm điểm đến trong quá trình đầu tư, tuy nhiên cần chú trọng hơn nữa đối với những doanh nghiệp FDI đầu tư công nghệ cao.

Từ khóa: Công nghệ cao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Hà Nội, cơ hội.

1. Doanh nghiệp lựa chọn Hà Nội làm điểm đến

Theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội Hà Nội đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030, Thành phố Hà Nội có 33 KCN nằm trong danh mục quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của Thành phố với tổng diện tích quy hoạch khoảng 6.693 ha. Đến nay, Hà Nội đã và đang phát triển 18 KCN với tổng diện tích gần 4.100 ha, trong đó có 08 KCN đã hoàn thành, đi vào hoạt động. Các KCN đang hoạt động đã tạo ra gần 60% giá trị sản xuất CN, 45% giátrị kim ngạch xuất khẩu toàn Thành phố, giải quyết việc làm cho trên 14 vạn lao động, thu hút được 549 dự án, trong đó 299 dự án FDI, vốn đăng ký đạt gần 5 tỷ USD của 18 quốc gia và vùng lãnh thổ; 250 dự án vốn đầu tư trong nước, vốn đăng ký đạt 10.875 tỷ đồng. Đồng thời, doanh thu hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong 8 KCN có tốc độ tăng trưởng khá cao và mức tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước từ năm 2011 doanh thu chỉ đạt 1.203,5 triệu USD đến năm 2015 doanh thu đạt 2.812,2 triệu USD, tăng 8% so với năm 2014 và nộp ngân sách tăng 10,3% so với năm 2014.

Cùng với doanh thu tăng mạnh mẽ, đóng góp của các doanh nghiệp trong 8 KCN Hà Nội cho ngân sách nhà nước ngày một tăng lên. Năm 2011 đóng góp của 8 KCN là 24,5 triệu USD thì đến hết năm 2015 số đóng góp đã tăng lên 50,89 triệu USD mặc dù đang trong thời gian được miễn giảm thuế. Kết quả sản xuất, kinh doanh và tỷ lệ doanh nghiệp (DN) lựa chọn 8 KCN Hà Nội làm nơi sản xuất đã chứng tỏ sự hấp dẫn, thu hút đầu tư của KCN Hà Nội so với các địa phương khác như TP. Hồ Chí Minh (80%), Bắc Ninh (60%), Đà Nẵng (56%), Bình Dương (50%), Bà Rịa Vũng Tàu (45%). Chính vì vậy dự kiến đến năm 2020, Hà Nội sẽ có 20 KCN đi vào hoạt động với tổng diện tích khoảng 4.500 ha, tỷ lệ lấp đầy các KCN đạt 60%; phấn đấu đạt tổng doanh thu khoảng 250.000 tỷ đồng (chiếm hơn 20% GDP của thành phố), tạo việc làm mới cho nửa triệu lao động.

2. Chưa tương xứng với tiềm năng

Thực tế cho thấy, mặc dù tỷ lệ lấp đầy các KCN ở Hà Nội tuy cao nhưng chưa tương xứng tiềm năng. Nguyên nhân là do các KCN đang trong giai đoạn xây dựng cơ bản còn nhiều. Đầu tư xây dựng hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN chưa đồng bộ và tiến độ chậm. Điển hình như KCN Nam Thăng Long được xây dựng theo hình thức cuốn chiếu, tức là xây dựng hạtầng khi nhà đầu tư bắt đầu triển khai xây dựng nhàmáy. Việc làm này có lợi cho Công ty hạ tầng do không phải bỏ ra một lượng vốn đầu tư ngay từ đầu, chi phí bỏ ra sẽ ít tốn kém. Đây là một trong những nguyên nhân khiến các nhà đầu tư cảm thấy e ngại khi cơ sở hạ tầng KCN vẫn chưa được hoàn chỉnh, đặc biệt là các dịch vụ hỗ trợ bên trong cũng như bên ngoài chưa hoàn chỉnh, dẫn đến khó thu hút được các nhà đầu tư lớn.

Mặt khác, việc chậm đầu tư xây dựng nhà máy xử lý nước thải sẽ làm ảnh hưởng đến môi trường, gây ô nhiễm. Các KCN theo quy hoạch chậm triển khai các thủ tục chuẩn bị đầu tư, xây dựng để đưa vào khai thác. Các dự án đang hoạt động cũng có nhiều vướng mắc trong giải phóng mặt bằng (GPMB), đầu tư xây dựng, hoàn thiện hạ tầng nên chưa hoàn thiện 100% dự án theo quy hoạch để thu hút đầu tư như: KCN Phú Nghĩa còn khoảng 20 ha chưa GPMB; KCN Nội Bài còn 14,1 ha đang GPMB; KCN Quang Minh I phần mở rộng 42 ha đang triển khai lập quy hoạch và GPMB. Hiệu quả sử dụng đất trong các KCN thấp. Ngoại trừ KCN Thăng Long, Sài Đồng B là có tỷ lệ vốn đầu tư trên 1ha là trên 5 triệu SD/ha, còn lại các khu khác thì tỷ lệ này rất thấp, đặc biệt là KCN Hà Nội - Đài Tư và Nam Thăng Long. Tỷ lệ trung bình của 5 khu (KCN Nội Bài, Thăng Long, Sài Đồng B, Nam Thăng Long, Hà Nội - Đài Tư), chỉ đạt 3,44 triêụ USD/ha (năm 2008). Trong khi đó, tỷ lệ này của các KCN ở Đồng Nai đạt 3,57 triệu USD/ha vẫn đánh giá là chưa cao.

3. Cơ cấu sản xuất công nghiệp chưa hợp lý và thiếu liên kết

Thực tế cho thấy, các dự án FDI đầu tư vào nước ta nhằm mục đích khai thác nguồn lao động địa phương và nguồn nguyên liệu trong nước. Tuy nhiên, đa số các doanh nghiệp đều phải nhập 100% nguyên liệu và bán thành phẩm từ nước ngoài. Đặc biệt các ngành công nghiệp trong các khu: Thăng Long, Nội Bài, Sài Đồng nguyên liệu chủ yếu là sắt, thép thì hoàn toàn là nhập từ nước ngoài như: Đài Loan, Nhật Bản, Singapore, Thái Lan… Tỷ lệ sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước rất thấp, giá trị không cao và đa phần là các nguồn nguyên liệu dùng cho mặt hàng chế biến thực phẩm và tiêu dùng.

Nhiều KCN như KCN hỗ trợ Nam Hà Nội, KCN Hà Nội - Đài Tư, việc thu hút đầu tư đều khó khăn. Số liệu điều tra của Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) cho thấy các nhà đầu tư chọn Hà Nội chủ yếu vì cơ hội kinh doanh (chiếm đến 65%). Các yếu tố còn lại đều không cao, cơ sở hạ tầng 29%, chất lượng nguồn lao động 19%. Đáng chú ý là tính hấp dẫn từ chất lượng điều hành tốt lại chỉ chiếm 3%. Các dự án đầu tư nước ngoài chủ yếu là từ châu Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan… KCN được quan tâm nhất hiện nay là KCN Thăng Long thì 100% là các công ty của Nhật Bản. Một số doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư công nghệ tiên tiến như: Honda, Yamaha...; doanh nghiệp Đài Loan, Hàn Quốc cũng đầu tư công nghệ mới cho sản xuất, nhưng các công nghệ này chỉ có thể đánh giá là công nghệ tiên tiến và trung bình chưa phải là công nghệ cao. Nhiều doanh nghiệp chỉ là sự dịch chuyển công nghệ từ các nước khác, phục vụ cho một số quy trình đơn giản: lắp ráp, sơn tĩnh điện… Một số doanh nghiệp cũng đầu tư sử dụng công nghệ cao như: Canon, ToHo, Brother… Việc độc quyền của các doanh nghiệp Nhật Bản trong các KCN Hà Nội làm giảm tính cạnh tranh của các doanh nghiệp. Trong khi đó, các quốc gia như Mỹ, EU là các nước có trình độ khoa học công nghệ cao, có năng lực cạnh tranh và trình độ quản lý kinh tế tốt, có thị phần thế giới lớn và ổn định thì các KCN Hà Nội thu hút được không nhiều. Tính liên kết, trình độ công nghệ chưa cao, giá trị gia tăng và khả năng tham gia chuỗi giá trị thấp, hiệu ứng lan tỏa của khu vực FDI sang khu vực khác còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp FDI thường sử dụng công nghệ có sẵn khi đầu tư, tỷ lệ đầu tư công nghệ cao chưa nhiều và không thường xuyên nâng cấp về công nghệ. Chất lượng dự án đầu tư vào KCN chưa đáp ứng yêu cầu về chuyển giao công nghệ, thiếu hụt các dự án công nghệ nguồn và các dự án công nghiệp hỗ trợ. Đa phần các doanh nghiệp FDI hoạt động khá khép kín theo hệ thống riêng, không gắn bó để tác động kích thích cho sự phát triển toàn ngành công nghiệp. Hiệu ứng lan tỏa của khu vực đầu tư FDI trong các KCN sang khu vực khác của nền kinh tế còn hạn chế.

4. Lý do khiến doanh nghiệp chưa đầu tư công nghệ cao

Phản ánh từ các doanh nghiệp FDI cho thấy nguyên nhân của việc doanh nghiệp FDI chưa đầu tư công nghệ cao là do quy hoạch KCN trên địa bàn Hà Nội chưa thực sự hợp lý. Hầu hết các KCN ở Hà Nội đều nằm ở các vị trí khá đắc địa về giao thông: Ven Quốc lộ 5 (Hà Nội - Hải Phòng), đường cao tốc Thăng Long - Nội Bài, đường cao tốc Láng Hòa Lạc, Quốc lộ 2 và một số khác nằm ven Quốc lộ 18 (Bắc Ninh - Móng Cái). Đây là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc vận chuyển hàng hóa, nguyên vật liệu, nhất là các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất, nhập khẩu. Tuy nhiên, theo thống kê sơ bộ đầu năm 2010, diện tích đất trồng lúa được chuyển đổi trong các KCN đã thành lập ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ chiếm trên 30% tổng diện tích đất tự nhiên của KCN. Con số này cao hơn rất nhiều so với các vùng Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long, nơi tỷ lệ diện tích đất trồng lúa so với diện tích đất tự nhiên của KCN chỉ chiếm 7-8%. Điều này có thể làm ảnh hưởng đến vấn đề an ninh lương thực của vùng và cả nước trong dài hạn. Thực tế, các KCN quá gần nhau và bám sát trên các tuyến giao thông trọng điểm, huyết mạch đã và đang cản trở đến lưu thông của nhiều nơi mà Quốc lộ 5 là một điển hình.

Không chỉ có vậy, các chính sách phát triển các KCN trên địa bàn chưa đủ sức khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào KCN như các chính sách đền bù giải phóng mặt bằng, chính sách về miễn giảm tiền thuê đất trong thời gian đầu cho các doanh nghiệp đầu tư vào CCN; chính sách hỗ trợ cho đầu tư xử lý môi trường tại các KCN; chính sách về huy động vốn, một số KCN; chính sách đối với các nhà đầu tư nộp tiền thuê đất một lần; chính sách về khung giá chi phí đền bù, GPMB cho phù hợp với mặt bằng thực tế; chính sách thu hút lao động chưa có cơ chế, chính sách hỗ trợ giải quyết chỗ ở cho lao động tại chỗ và lao động thuê nhà có dài hạn, chưa có các chính sách tạo quỹ nhà cho người lao động tại KCN; chưa có các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp lớn, nhà đầu tư hạ tầng KCN xây dựng nhà ở cho lao động thuộc phạm vi của mình (miễn tiền thuê đất, cho vay ưu đãi…).

Mong muốn lựa chọn địa điểm phù hợp với quy hoạch là vấn đề khó khăn với các nhà đầu tư do hiện các nhà đầu tư không có nhiều thông tin về quy hoạch phân khu và quy hoạch ngành. Các quy hoạch này cũng không chỉ ra rõ các địa điểm doanh nghiệp có thể lựa chọn thực hiện dự án, đặc biệt các dự án cung cấp dịch vụ. Việc lựa chọn đối tác nước ngoài tham gia đầu tư KCN chưa phù hợp. Ví dụ: Dự án KCN Sài Đồng B, sau gần 10 năm dự án được cấp phép đầu tư, đối tác vẫn không đủ khả năng tài chính để triển khai xây dựng, nên buộc phải thu hồi giấy phép. Đồng thời, nhiều KCN thành lập cách đây 2-3 năm, thậm chí 4-5 năm mà chưa có khách đến thuê KCN Sài Đồng A. Công tác lựa chọn, tiếp nhận các dự án đầu tư thứ phát vào một số KCN còn hạn chế, chưa lựa chọn được các dự án có hiệu quả cao, tương xứng với tiềm năng phát triển của Thành phố. Tình trạng các dự án đầu tư trong KCN khi được giao đất không triển khai đúng tiến độ, không đúng với nội dung dự án được cấp phép, vi phạm các quy định về quản lý đất đai còn diễn ra.

Công tác GPMB cũng là một trong những lý do cơ bản khiến cho việc phát triển các KCN chậm trễ. Sau khi sát nhập thêm địa giới và đặc biệt là khi Chính phủ ban hành Nghị định 69/2009/NĐ-CP bổ sung một số quy định về giá đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư, dẫn tới làm thay đổi chính sách đền bù GPMB của Nhà nước cũng làm cho công tác GPMB bị chững lại. Nhiều KCN từ khi có quyết định thành lập Hội đồng đền bù GPMB đến khi hoàn thành thủ tục, lấy được đất phải kéo dài nhiều năm, dẫn đến nhiều phát sinh nằm ngoài dự kiến làm tốn kém và gây tâm lý e ngại cho nhà đầu tư. KCN Sài Đồng B GPMB giai đoạn II đến nay vẫn chưa hề có tiến triển. Hệ quả là, hàng loạt nhà đầu tư nước ngoài đăng ký đầu tư vào KCN sau nhiều năm không xác định được thời gian giao đất, đã nản lòng và phải quay ra đầu tư vào các địa phương khác. Bên cạnh đó, giá thuê đất trong KCN Hà Nội khá cao (khoảng từ 100 USD đến 150 USD/m2, cao gấp 1,5 - 2 lần so với giá cho thuê tại các KCN các tỉnh lân cận như Hưng Yên, Hà Nam, Hòa Bình) chưa hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, làm giảm tính cạnh tranh của KCN Hà Nội.

Quản lý Nhà nước còn nhiều bất cập, các cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp chưa thật sự có hiệu quả, đặc biệt là các chính sách về đất đai, đầu tư, tạo điều kiện cho doanh nghiệp giảm chi phí đầu tư để giảm giá cho thuê hạ tầng, nâng cao sức cạnh tranh của KCN. Bên cạnh đó, chưa có cơ chế, chính sách về chuyển giao công nghệ nên chưa tạo ra lực đẩy cho đổi mới công nghệ. Về phát triển công nghiệp của Hà Nội, hiện nay vẫn chưa xác định rõ và chưa hình thành được các ngành công nghiệp mang tính chủ lực, đột phá, mang lại giá trị kinh tế cao. Do bộ máy quản lý của UBND, các sở, ban quản lý còn một số tồn tại, hạn chế. Sự phối hợp giữa Ban quản lý KCN với các sở, ngành còn chưa chặt chẽ. Cá biệt có những việc còn chồng chéo chức năng nhiệm vụ giữa các đơn vị, gây khó khăn trong công tác quản lý và khó khăn trong thực hiện các thủ tục hành chính (TTHC) của doanh nghiệp. Một số thủ tục trong đầu tư, đất đai cho các dự án thứ phát còn phức tạp, nhiều đầu mối gây khó khăn cho các doanh nghiệp.

5. Hà Nội cần tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư công nghệ cao

Hà Nội đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân thời kỳ 2016-2020 đạt 11-12%/năm, thời kỳ 2021-2030 đạt khoảng 9,5-10%/năm. Đến năm 2020, GDP bình quân đầu người của Hà Nội đạt 7.100-7.500 USD, phấn đấu tăng lên 16.000-17.000 USD vào năm 2030.

Để đạt được mục tiêu này, Thành phố cần xác định bên cạnh việc phát triển mạnh mẽ lĩnh vực dịch vụ, Hà Nội cũng sẽ phải tập trung phát triển nhanh một số ngành, sản phẩm công nghiệp có tính chất dẫn đường như: công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghiệp điện tử, cơ khí chính xác, công nghiệp dược, hóa mỹ phẩm… Thông qua việc xây mới và mở rộng 15 KCN, đồng thời phát triển các cụm công nghiệp ở ngoại thành, chú trọng thu hút các ngành công nghiệp không gây ô nhiễm môi trường. Tập trung phát triển các ngành tạo ra sản phẩm có hàm lượng tri thức và công nghệ cao (công nghệ tự động hóa, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới), các ngành có lợi thế cạnh tranh, có thương hiệu như: các sản phẩm công nghiệp điện tử (máy tính, máy văn phòng, điện tử công nghiệp, điện tử, y tế..); công nghệ thông tin, sản phẩm cơ khí chế tạo (máy công cụ và động lực, lắp ráp, chế tạo ô tô, xe máy, máy biến thế...); chế biến thực phẩm, dược phẩm, sản phẩm vật liệu mới...

Khuyến khích phát triển công nghiệp phụ trợ cho các ngành công nghiệp chủ lực như cơ khí, điện tử...; Phát triển mạnh mẽ các doanh nghiệp vừa và nhỏ bằng nguồn vốn tư nhân, tạo ra một mạng lưới các vệ tinh sản xuất và xuất khẩu cho các công ty lớn. Tiếp tục hoàn thiện hạ tầng và bổ sung các hạng mục còn thiếu của 8 KCN đã đi vào hoạt động. Hoàn thành tiến độ GPMB và xây dựng hạ tầng các KCN đã được thành lập nhưng chưa đi vào hoạt động. Đẩy mạnh xúc tiến đầu tư vào các KCN theo hướng tập trung thu hút các dự án thuộc ngành công nghiệp có tỷ trọng tri thức, hàm lượng công nghệ cao, công nghiệp sạch hoặc không độc hại có quy mô đầu tư lớn. Khuyến khích đặc biệt các dự án sử dụng công nghệ tiên tiến từ các nước phát triển. Không cấp phép các dự án sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu, ảnh hưởng tới môi trường.

Nhằm thu hút doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp FDI trong quá trình đầu tư, Thành phố Hà Nội cần sớm ban hành các quy định về quản lý các KCN như: quản lý đất đai, tài nguyên, môi trường đảm bảo rõ trách nhiệm, tránh chồng chéo. Tăng cường phân cấp, ủy quyền cho Ban quản lý các KCN thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các KCN theo hướng “một cửa, tại chỗ”. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chỉ số cạnh tranh (PCI), cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện hệ thống “một cửa liên thông” giải quyết các thủ tục hành chính cho các nhà đầu tư vào KCN, từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ công, tăng cường ứng dụng CNTT vào việc thực hiện các thủ tục hành chính, tiến tới các nhà đầu tư có thể thực hiện các thủ tục hành chính trên mạng internet mà không phải trực tiếp đến trụ sở.

Doanh nghiệp FDI cũng kiến nghị, trong thời gian tới UBND Thành phố tiếp tục chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ, sớm hoàn thiện hoàn thiện Đề án quy hoạch các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn, làm cơ sở để tổ chức triển khai, thực hiện. Rà soát quy hoạch chi tiết các KCN hiện đang bị chồng lấn và chưa được phê duyệt điều chỉnh sau khi có quy hoạch chung Thủ đô, quy hoạch phân khu đã ban hành. Tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tiếp cận thông tin về quy hoạch để xây dựng kế hoạch đầu tư; công bố rộng rãi các quy hoạch đã được phê duyệt. Thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng và kịp thời giải quyết vướng mắc về giải phóng mặt bằng, phát triển hạ tầng. Ưu tiên bố trí vốn ngân sách nhà nước đầu tư xây dựng các công trình ngoài hàng rào KCN để đảm bảo kết nối và sự đồng bộ về hạ tầng trong các KCN mới. Tăng cường cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư và có các cơ chế ưu đãi đặc thù cho các dự án FDI trong các KCN chuyên ngành công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ theo tinh thần Luật Thủ đô... Quan tâm nâng cao chất lượng lao động và cải thiện quan hệ lao động; xử lý tranh chấp, bảo vệ quyền lợi người lao động và chủ đầu tư. Tổ chức xúc tiến đầu tư chuyên nghiệp và hiện đại, tăng cường đầu tư kinh phí cho công tác xúc tiến đầu tư, đẩy mạnh phát triển chính phủ điện tử trong quản lý các KCN trên địa bàn; Nâng cao năng lực và đạo đức nghề nghiệp cho công chức và cán bộ các cấp liên quan. Xây dựng kế hoạch, bố trí hoặc hỗ trợ kinh phí xây dựng và phát triển hạ tầng xã hội như trường học, bệnh viện, nhà ở, nhu cầu về dịch vụ văn hóa, thể thao, xã hội, góp phần bảo đảm cuộc sống của người lao động, ổn định an sinh xã hội. Tăng cường tổ chức các hội nghị tiếp xúc, đối thoại với các doanh nghiệp, người lao động trong các KCN để kịp thời nắm bắt và giải quyết các vướng mắc, khó khăn của doanh nghiệp, người lao động.

Tuy nhiên, bên cạnh những kiến nghị với UBND thành phố Hà Nội, đòi hỏi trong thời gian tới Quốc hội và Chính phủ cần định kỳ tổ chức rà soát, đánh giá toàn diện và nâng cấp hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước tại các KCN để có tính tiên lượng và minh bạch, có tính cạnh tranh hơn so với các nước trong khu vực. Tiếp tục xem xét sửa đổi, bổ sung các quy định pháp lý trong Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật Tài nguyên, Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản liên quan đến đầu tư cho phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế mới nhất là khi ta đã tham gia sâu vào tổ chức TPP theo hướng: Tăng hình phạt cao cho các vi phạm bảo vệ môi trường; Hạn chế thu hút đầu tư vào các ngành khai thác tài nguyên, sử dụng nhiều đất, tiêu hao nhiều năng lượng, dự án đầu tư công nghệ thấp, gây ô nhiễm môi trường. Khi các Luật được ban hành, đề nghị Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương cần ban hành sớm các Nghị định, Thông tư hướng dẫn, đồng bộ, tránh phức tạp trong thời gian chuyển giao giữa các quy định cũ và quy định mới. Tiếp tục rà soát, ban hành các quy định cụ thể về thẩm quyền của các Ban quản lý KCN để đảm bảo công tác quản lý nhà nước được toàn diện, một đầu mối theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP và Nghị định số 164/2013/NĐ-CP về quản lý các KCN.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Ban quản lý Khu công nghiệp và chế xuất Hà Nội (2015): Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2014 và phương hướng nhiệm vụ năm 2015.

2. Ban quản lý Khu công nghiêp và chế xuất Hà Nội (11/2005), Kỷ yếu Hội thảo khoa học 10 năm xây dựng các khu công nghiệp và chế xuất Hà Nội (1995 - 2005).

3. Ban quản lý Khu công nghiệp và chế xuất Hà Nội (2007) “Hà Nội - Địa chỉ vàng cho các nhà đầu tư.

4. Chính phủ (1997), Nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 ban hành Quy chế Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao.

5. Doãn Đình Huề - Tạp chí Cộng sản (2004) “Thực trạng và giải pháp phát triển KCN ở Việt Nam”, Kỷ yếu hội thảo khoa học phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất ở các tỉnh phía Bắc.

6. Fuad Sefrioui (1999), Industrial Zones Experiences, Journal Economic Cooperation Among Islamic Countries.

7. Https://vi.wikipedia.org/wiki/Khu_c%C3%B4ng_nghi%E1%BB%87p

8. UBND Thành phố Hà Nội (2010) “Danh mục dự án đầu tư vào Hà Nội giai đoạn 2006-2010”

9. Trần Ngọc Hưng - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2004), “Thực trạng và một số giải phápphát triển khu công nghiệp, khu chế xuất ở các tỉnh phía Bắc”, Kỷ yếu hội thảo khoa học phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất ở các tỉnh phía Bắc.

10. Trang web Sở Kế hoạch đầu tư Hà Nội. Địa chỉ: http://www.hapi.gov.vn

11. TS. Hoàng Xuân Hoà (2004), Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, Kỷ yếu hội thảo khoa học phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất ở các tỉnh phía Bắc tại Thanh Hóa, Ban kinh tế Trung ương Đảng.

12. Vũ Thành Hưởng: Diễn đàn Phát triển Việt Nam và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, “Môi trường và chính sách kinh doanh của Hà Nội”.

PROPOSALS RELATING TO CREATING BUSINESS

OPPORTUNITIES FOR HIGH-TECH FDI ENTERPRISES

WHICH INVEST INTO HANOI CITY

Master. DO VAN TRUONG

The Peoples Council Office of Hanoi city

ABSTRACT:

Hanoi city has created the best business environment for foreign-fund enterprises who invest into the city. However, the administrative authorities of Hanoi city still have to pay more attention to attract more hi-tech foreign direct investment (FDI) enterprises.

Keywords: High technology, foreign-fund enterprises, Hanoi city, opportunities.

Xem toàn bộ ấn phẩm Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ số 03 tháng 03/2017 tại đây