Một số giải pháp góp phần phát triển công nghiệp bền vững

Những bất cập trong phát triển công nghiệp ở Việt Nam thời gian qua đã được đề cập nhiều tại các cuộc hội thảo, trên các phương tiện thông tin đại chúng, các báo chí trong ngành Công Thương. Bài viết

1. Tái cơ cấu ngành Công nghiệp, phát triển công nghiệp hỗ trợ.

 Tỷ lệ giữa giá trị gia tăng (VA) trên giá trị sản xuất công nghiệp (GO) (VA/GO) theo giá cố định của tất cả các chuyên ngành công nghiệp sau 12 năm đều giảm. Giảm nhiều nhất là ngành luyện kim, tiếp theo là chế biến nông lâm thuỷ sản, điện tử, hoá chất, cơ khí,... Do các ngành đều phát triển theo hướng chuyên môn hoá (giảm bớt các công đoạn trong dây chuyền sản xuất); đầu tư sản xuất các công đoạn đơn giản của sản phẩm (chủ yếu là gia công, lắp ráp) và sản xuất các sản phẩm giá trị gia tăng thấp (phù hợp với trình độ thấp và vốn ít). Hầu hết các chi tiết, linh kiện và vật liệu giá trị cao đều nhập khẩu. Trong nước chưa tự thiết kế, chế tạo được nhiều sản phẩm, nhất là các sản phẩm chất lượng cao.

 Tái cơ cấu ngành cần được thực hiện theo hai hướng:

 Thứ nhất: Thực hiện đồng bộ các chính sách từ thu hút đầu tư, các chính sách tài chính tiền tệ, chính sách lao động tiền lương ... đều tập trung cho việc khuyến khích các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao, ít sử dụng tài nguyên, năng lượng, giảm thiểu ô nhiễm.  Để thực hiện điều này cần:

 - Ban hành và công bố danh mục các ngành công nghiệp bị kiểm soát và hạn chế đầu tư, các ngành công nghiệp được khuyến khích. Chẳng hạn công nghiệp xi măng, cán thép đã vượt quá nhiều nhu cầu nội địa. Đây là những ngành công nghiệp có VA thấp, ô nhiễm môi trường cao, tốn nhiều tài nguyên đất đai, năng lượng... cần phải kiểm soát chặt chẽ việc cấp phép.

 - Có chính sách hỗ trợ, khuyến khích nghiên cứu, thiết kế sản phẩm mới.

 - Kiểm soát chặt chẽ hoạt động nhập khẩu công nghệ bằng các quy định cụ thể, có điều kiện cho loại công nghệ được phép nhập khẩu. Khuyến khích áp dụng công nghệ, thiết bị tiên tiến để sản xuất các sản phẩm chất lượng cao, có giá trị gia tăng cao, tiêu hao ít vật tư, năng lượng và bảo vệ môi trường. Đổi mới công nghệ, thiết bị lạc hậu đối với các dây chuyền sản xuất hiện có. Lựa chọn thiết bị, công nghệ tiên tiến đối với đầu tư mới. Áp dụng hình thức quản lý tiên tiến- sản xuất sạch hơn.

 - Gia tăng mức độ chế biến sâu đối với các sản phẩm.

 - Xây dựng các thương hiệu nội địa mạnh, uy tín để tăng giá trị hàng hoá.

 - Thúc đẩy nhanh sự ra đời và phát triển của ngành Công nghiệp môi trường.

 Thứ hai: Tập trung quyết liệt việc phát triển hệ thống công nghiệp hỗ trợ (CNHT)

 Để phát triển nhanh, có hiệu quả CNHT, cần:

 - Thành lập cơ quan đầu mối đủ mạnh để có chính sách, kế hoạch phát triển CNHT một cách nhất quán, hiệu quả.

 - Thiết lập nhanh hệ thống cơ sở dữ liệu cho CNHT.

 - Lựa chọn các nhóm ngành CNHT cần ưu tiên phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của từng giai đoạn.

 - Phối hợp chặt chẽ với đối tác Nhật Bản trong khuôn khổ Nghị định hợp tác kinh tế Việt - Nhật.

 - Dành quỹ đất cho các khu CNHT thí điểm, trước hết là ở các khu kinh tế trọng điểm.

 2. Tiếp tục đổi mới đồng bộ hệ thống quản lý

 Trong thời gian qua, hệ thống các văn bản pháp luật quản lý ngành Công nghiệp đã được ban hành khá nhiều và đầy đủ. Tuy vậy, nhiều văn bản vẫn còn vướng mắc khi thực hiện, nhất là các chính sách khuyến khích, hỗ trợ của Nhà nước vào một số ngành, sản phẩm trọng điểm. Do vậy, cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh sự phát triển của ngành công nghiệp theo hướng hiệu quả, bền vững là cấp bách. Đổi mới và hoàn thiện hệ thống quản lý nhà nước theo hướng:

 - Tạo môi trường thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh hiệu quả (thủ tục hành chính thông thoáng, bảo đảm mặt bằng cho doanh nghiệp, giảm chi phí lưu thông thông qua nâng cấp hạ tầng giao thông, bến cảng; thủ tục hải quan...)

 - Thực thi chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với các ngành, sản phẩm thuộc công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

 - Đối xử bình đẳng trong thực thi pháp luật và chính sách của Nhà nước đối với mọi loại hình sản xuất, kinh doanh (tiếp cận các nguồn vốn của Nhà nước, chống hàng nhái, hàng giả, trốn thuế, gian lận thương mại, xử lý chất thải bảo vệ môi trường,...)

 - Bảo đảm thực thi chính sách khuyến khích đổi mới và áp dụng công nghệ tiến tiến; sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, công nghệ sạch không gây ô nhiễm môi trường.

 - Lựa chọn các nhà đầu tư có đủ năng lực tài chính, trình độ công nghệ cao và quản lý sản xuất hiệu quả thực hiện các dự án quy mô lớn tầm quốc gia (đấu thầu dự án).

 3. Phát triển nhân lực cho các ngành công nghiệp mới

 Cần có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực cho các ngành công nghiệp mới, đáp ứng nhu cầu của các ngành theo từng giai đoạn phát triển (đến năm 2010; 2011-2015 và 2016-2020) và có chính sách hỗ trợ các chương trình đào tạo nguồn nhân lực do các doanh nghiệp công nghiệp.

 Xây dựng chính sách hỗ trợ về tài chính các chương trình đào tạo nhân lực chất lượng cao. Điều này hết sức quan trọng vì đây là sự hỗ trợ trực tiếp quan trọng cho sự đổi mới công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp, đồng thời tạo ra lực lượng lao động chất lượng cao phục vụ cho các ngành công nghiệp có giá trị tăng thêm cao, tiết kiệm nguyên, nhiên liệu và bảo vệ môi trường. Các hỗ trợ này là hoàn toàn phù hợp với cam kết WTO.

 Thành lập hệ thống khuyến khích và chứng nhận lao động kĩ thuật cao trong các ngành công nghiệp. Hệ thống này cần được xây dựng ở cấp quốc gia, tỉnh - thành phố và doanh nghiệp. Các cấp này phối hợp với nhau để khuyến khích lao động có trình độ kĩ thuật cao ngày càng cải thiện chất lượng và họ được xã hội thừa nhận.

 Khuyến khích thực hiện các chương trình đào tạo phối hợp giữa các công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các nhà cung cấp trong nước. Các chương trình này nhằm mục tiêu chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp trong nước và cũng tạo cơ hội để các bên hiểu biết và phối hợp hoạt động với nhau.

 Xây dựng chương trình hợp tác đào tạo giữa Nhà nước, các doanh nghiệp công nghiệp và các trường đại học.

 Đây là giải pháp có tính quyết định, vì nếu không có đội ngũ nhân lực tốt thì hiệu quả chuyển giao công nghệ không thể cao, chưa nói đến phát minh sáng chế.

 4. Thúc đẩy hoạt động KHCN, hình thành hệ thống vườn ươm KHCN.

 Tiếp nhận công nghệ hiện đại từ nước ngoài là chủ trương chính sách chủ yếu thực hiện từ nay đến năm 2020. Đây là hướng quan trọng nhất hiện nay để đổi mới và nâng tầm trình độ công nghệ của các doanh nghiệp công nghiệp trong nước. Ngoài cơ chế chính sách thuận lợi cho tiến trình tiếp nhận chuyển giao này là những chính sách hỗ trợ tối đa cho quá trình nắm bắt nhanh, làm chủ và sáng tạo công nghệ, như những biện pháp ưu đãi về thuế và tín dụng để thu hút nguồn công nghệ này, đồng thời phải có biện pháp kiểm soát nguồn công nghệ (không nhập khẩu công nghệ cũ, lạc hậu). Ưu tiên tiếp nhận chuyển giao các công nghệ hiện đại, thân môi trường, đồng thời mang lại nhiều lợi ích kinh tế xã hội khác như thu hồi vốn nhanh, có khả năng tạo nhiều việc làm và dịch vụ kèm theo.

 Thành lập trung tâm thông tin, tư vấn về khoa học công nghệ; lập cơ sở dữ liệu về công nghệ theo các nhóm ngành kinh tế - kỹ thuật để công nghiệp có thể lựa chọn công nghệ phù hợp. Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin liên quan đến công nghệ mình đang quan tâm. Do vậy, việc thành lập và phát triển trung tâm là một giải pháp thiết thực, phù hợp với nhu cầu trước mắt và lâu dài về phát triển công nghệ của các ngành công nghiệp.

 Ban hành chính sách hỗ trợ thuận lợi nhất cho việc hình thành hệ thống vườn ươm KHCN trong nước với sự giúp đỡ của các tổ chức KHCN nước ngoài bằng việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ, có chính sách thu hút nhân lực KHCN chất lượng cao về làm việc tại các vườn ươm bằng những điều kiện cụ thể, hấp dẫn như thu nhập ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực, có chính sách hỗ trợ nhà ở, bảo hiểm xã hội hợp lý.

 Khuyến khích và tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ là người Việt Nam ở nước ngoài thực hiện chuyển giao những tiến bộ công nghệ về phục vụ trong nước.

 5. Xác định, lựa chọn các đối tác chiến lược cho ngành, cho các doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị các Công ty đa quốc gia (MNC).

 Rà soát, đánh giá lại, điều chỉnh kịp thời các quy hoạch, chiến lược phát triển các ngành/lĩnh vực công nghiệp, các khu công nghiệp cả nước để bảo đảm tính hợp lý của các quy hoạch, chiến lược. Trên cơ sở đó lựa chọn các đối tác chiến lược cho các ngành, cho các doanh nghiệp và xây dựng các phương án phối hợp đầu tư phù hợp.

 Căn cứ danh mục dự án quốc gia kêu gọi FDI, cần chuẩn bị kỹ một số dự án đầu tư quan trọng, chọn, mời trực tiếp một vài tập đoàn lớn trong Ngành, lĩnh vực quan trọng được ưu tiên vào để đàm phán, tham gia đầu tư vào các dự án. Tập trung thu hút đầu tư vào các lĩnh vực mà các nhà đầu tư nước ngoài có tiềm năng với công nghệ hiện đại, có hàm lượng trí tuệ và giá trị gia tăng cao.

 Để thúc đẩy các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị các MNC cần có các giải pháp đồng bộ sau:

 - Củng cố và nâng cao vai trò hoạt động của các tổ chức hiệp hội chuyên ngành, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ nhằm tổ chức có hiệu quả việc liên kết các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài trong chuỗi các MNC.

 - Kết nối các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp nội địa trong việc sản xuất các sản phẩm phụ trợ.

 - Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của các chợ công nghệ làm cầu nối giữa các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài.

 - Xây dựng và ký kết các hợp đồng liên kết kinh tế với các quốc gia trong khu vực để phối hợp và tận dụng năng lực của nhau và để bước đầu tạo dựng cho doanh nghiẹp tham gia vào chuỗi sản xuất kinh tế toàn cầu.

 6. Rà soát, ban hành hệ thống định mức kinh tế -kỹ thuật.

 Hệ thống định mức một mặt là công cụ quản lý, mặt khác còn là cơ sở để thực hiện tiết kiệm, là thước đo hiệu quả kinh doanh. Do những tác động của môi trường kinh doanh, đặc biệt là sự tiến bộ của KHCN, hệ thống định mức ở nhiều nhóm ngành thay đổi nhanh chóng. Bởi vậy, cần hoàn thiện hệ thống này theo hướng sau:

 - Phân chia, phân loại lại nhóm ngành, nhóm sản phẩm theo các tiêu chí phù hợp với các thông lệ quốc tế trên cơ sở mềm, mở và nhiều thước đo, nhiều đơn vị tính.

 - Ban hành văn bản quy phạm về hướng dẫn xây dựng hệ thống định mức.

 - Tổ chức hệ thống quản lý, thống kê, giám sát định mức ở phạm vi quản lý Ngành.

 - Ban hành hướng dẫn xây dựng hệ thống định mức cho các doanh nghiệp, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ để sử dụng định mức như một thước đo phân tích hiệu quả kinh doanh.

 - Từ hệ thống định mức, phát hành cuốn “Cẩm nang tiết kiệm chi phí” cho các doanh nghiệp tham khảo, tổ chức thực hiện.

  • Tags: