Ngày 26/02/2014
Chính phủ ban hành Nghị định số 14/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật điện lực về an toàn điện.
Nghị định gồm 4 chương, 27 điều, quy định về an toàn trong phát điện, truyền tải điện, phân phối điện và sử dụng điện để sản xuất; huấn luyện và cấp thẻ an toàn điện; cường độ điện trường trong trạm điện có điện áp từ 220 kV trở lên; xây dựng công trình lưới điện cao áp; khoảng cách an toàn phóng điện theo cấp điện áp; hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không; cây trong và ngoài hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không; điều kiện tồn tại nhà ở, công trình trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không có điện áp đến 220 kV; hành lang bảo vệ an toàn đường cáp điện ngầm; hành lang bảo vệ an toàn trạm điện; quản lý, vận hành lưới điện cao áp; bồi thường, hỗ trợ nhà ở, công trình, đất và cây trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không.
Bộ Công Thương có trách nhiệm quản lý nhà nước 5 nội dung: 1) Xây dựng, ban hành, hướng dẫn, tổ chức thực hiện quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn điện; 2) Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan chuẩn bị hồ sơ dự thảo các tiêu chuẩn quốc gia về an toàn điện, gửi Bộ Khoa học và Công nghệ để thẩm định và công bố; 3) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương thực hiện quản lý nhà nước các hoạt động về an toàn điện; 4) Ban hành quy định hướng dẫn việc tổ chức kiểm định chất lượng các thiết bị, dụng cụ và sản phẩm điện về tiêu chuẩn an toàn; 5) Thanh tra, kiểm tra về an toàn điện đối với các tổ chức, cá nhân trong hoạt động điện lực và sử dụng điện; phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm.
(Nguồn: Công báo số 307 + 308, ngày 13/3/2014)
Ngày 06/5/2014
Chính phủ ban hành Nghị định số 38/2014/NĐ-CP về quản lý hóa chất thuộc diện kiểm soát của Công ước Cấm phát triển, sản xuất, tàng trữ, sử dụng và phá hủy vũ khí hóa học.
Các hành vi bị cấm bao gồm: Phát triển, sản xuất, sở hữu, tàng trữ và sử dụng vũ khí hóa học; xuất khẩu, nhập khẩu vũ khí hóa học; hoạt động sản xuất, chế biến, tiêu dùng, tàng trữ, kinh doanh và xuất khẩu, nhập khẩu hóa chất theo danh mục hóa chất ở Bảng 1, Bảng 2, Bảng 3 (phần phụ lục của Nghị định) trừ trường hợp được phép của cơ quan có thẩm quyền cho những mục đích đặc biệt như nghiên cứu, y tế, dược phẩm hoặc bảo vệ; hoặc không bị Công ước Cấm vũ khí hóa học cấm. Các mục đích không bị cấm, gồm: Phát triển công nghiệp, nông nghiệp, nghiên cứu, y tế, dược phẩm và các mục đích hòa bình khác; bảo vệ liên quan trực tiếp đến việc phòng, chống hóa chất độc và vũ khí hóa học; hoạt động quốc phòng, an ninh không gắn với việc sử dụng vũ khí hóa học và không sử dụng độc tính của hóa chất như là phương tiện chiến tranh; cưỡng chế thi hành luật, kể cả chống bạo loạn trong nước.
Bộ Công Thương chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý nhà nước về thực hiện Công ước Cấm vũ khí hóa học; chủ trì thực hiện các nội dung sau: Ban hành theo quy phạm pháp luật thực hiện Công ước Cấm vũ khí hóa học; cấp, đình chỉ, thu hồi theo thẩm quyền Giấy phép sản xuất, chế biến, tiêu dùng, tàng trữ, kinh doanh và xuất khẩu, nhập khẩu hóa chất thuộc diện kiểm soát của Công ước Cấm vũ khí hóa học; quản lý việc sản xuất, chế biến, tiêu dùng, tàng trữ, kinh doanh và xuất khẩu, nhập khẩu hóa chất thuộc diện kiểm soát của Công ước Cấm vũ khí hóa học; thực hiện việc thanh tra, kiểm tra các hoạt động này tại các cơ sở hóa chất thuộc phạm vi quản lý của mình; tổ chức tuyên truyền, phổ biến Công ước Cấm vũ khí hóa học và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; chủ trì thực hiện hợp tác quốc tế trong khuôn khổ của Công ước Cấm vũ khí hóa học.
(Nguồn: Công báo số 509 + 510, ngày 20/5/2014)
Ngày 14/5/2014
Chính phủ ban hành Nghị định số 42/2014/NĐ-CP về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp Nghị định áp dụng đối với doanh nghiệp bán hàng đa cấp, người tham gia bán hàng đa cấp và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động bán hàng đa cấp.
Nghị định nêu 17 hành vi cấm doanh nghiệp bán hàng đa cấp thực hiện: 1) Yêu cầu người bán hàng đa cấp phải đặt cọc; 2) Yêu cầu người bán hàng đa cấp phải mua một số lượng hàng hóa; 3) Yêu cầu người bán hàng đa cấp phải trả thêm một khoản tiền để duy trì, phát triển mạng lưới bán hàng; 4) Hạn chế một cách bất hợp lý quyền phát triển mạng lưới của người tham gia bán hàng đa cấp; 5) Cho người bán hàng đa cấp nhận hoa hồng, tiền thưởng từ việc dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp; 6) Từ chối chi trả không có lý do chính đáng các khoản hoa hồng, tiền thưởng của người bán hàng đa cấp; 7) Yêu cầu người bán hàng đa cấp phải tuyển dụng mới hoặc gia hạn hợp đồng bán hàng đa cấp với số lượng nhất định người tham gia bán hàng đa cấp để được quyền hưởng hoa hồng, tiền thưởng; 8) Yêu cầu người tham gia hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo phải trả tiền hoặc phí; 9) Ép buộc người bán hàng đa cấp phải tham gia các hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về các nội dung không được quy định tại khoản 8, Điều 3 Nghị định; 10) Yêu cầu người tham gia hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về các nội dung không được quy định tại Khoản 8, Điều 3 Nghị định; 11) Thu phí cấp, đổi thẻ thành viên theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 21 Nghị định này; 12) Không cam kết cho người bán hàng đa cấp trả lại hàng hóa và nhận lại khoản tiền đã chuyển cho doanh nghiệp theo quy định tại Điều 26 Nghị định; 13) Cản trở người tham gia bán hàng đa cấp trả lại hàng hóa theo quy định tại Điều 26 Nghị định; 14) Cung cấp thông tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp; 15) Duy trì nhiều hơn một vị trí kinh doanh đa cấp đối với cùng một người tham gia bán hàng đa cấp; 16) Kinh doanh theo mô hình kim tự tháp; 17) Mua bán hoặc chuyển giao mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp cho doanh nghiệp khác; 18) Yêu cầu, xúi giục người tham gia bán hàng đa cấp thực hiện hành vi bị cấm được quy định tại khoản 2, Điều 5.
Nghị định cấm người tham gia bán hàng đa cấp thực hiện 5 hành vi sau: 1) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải trả một khoản tiền nhất định, nộp tiền đặt cọc hoặc phải mua một lượng hàng hóa nhất định dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp; 2) Cung cấp thông tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn về lợi ích của việc tham gia bán hàng đa cấp, tính chất, công dụng của hàng hóa, hoạt động của doanh nghiệp bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp; 3) Tổ chức các buổi hội thảo, hội nghị khách hàng, hội thảo giới thiệu sản phẩm, đào tạo mà không được doanh nghiệp bán hàng đa cấp ủy quyền bằng văn bản; 4) Lôi kéo, dụ dỗ, mua chuộc người tham gia bán hàng đa cấp của doanh nghiệp khác tham gia vào mạng lưới của doanh nghiệp mà mình đang tham gia; 5) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, địa vị xã hội để yêu cầu người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp hoặc mua hàng hóa kinh doanh theo phương thức đa cấp.
Bộ Công Thương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp; cơ quan quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Công Thương có trách nhiệm giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương trong các nội dung cụ thể về giám sát, quản lý bán hàng đa cấp.
(Nguồn: Công báo số 529 + 530, ngày 26/5/2014)
Ngày 21/7/2014
Chính phủ ban hành Nghị định số 71/2014/NĐ-CP quy định chi tiết Luật cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh.
Nghị định quy định việc xử lý đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh. Các hành vi vi phạm quy chế về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm: Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ; thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, dịch vụ; thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng; thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận; thông đồng để một hoặc các bên của thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
Các hành vi vi phạm quy định về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền bao gồm: Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh; áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng; hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng; áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh; áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng; ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới; lạm dụng vị trí độc quyền. Các hành vi vi phạm quy định về tập trung kinh tế bao gồm: Sáp nhập doanh nghiệp bị cấm; hợp nhất doanh nghiệp bị cấm; mua lại doanh nghiệp bị cấm; liên doanh giữa các doanh nghiệp bị cấm; không thông báo về tập trung kinh tế.
Các hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh không lành mạnh bao gồm: Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp; xâm phạm bí mật kinh doanh; ép buộc trong kinh doanh; gièm pha doanh nghiệp khác; gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác; quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh; phân biệt đối xử của hiệp hội; vi phạm quy định về bán hàng đa cấp.
Cơ quan quản lý cạnh tranh có thẩm quyền phạt cảnh cáo bằng tiền, tịch thu tang vật vi phạm, buộc cải chính công khai đối với cá nhân, tổ chức vi phạm. Hội đồng cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có thẩm quyền: phạt cạnh cáo; phạt tiền; tịch thu tang vật; buộc chia, tách doanh nghiệp đã sáp nhập, hợp nhất; buộc bán lại phần doanh nghiệp đã mua; buộc cải chính công khai; buộc loại bỏ những điều khoản vi phạm pháp luật ra khỏi hợp đồng hoặc giao dịch kinh doanh; buộc sử dụng hoặc bán lại các sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp đã mua nhưng không sử dụng; buộc loại bỏ những biện pháp ngăn cản, kìm hãm doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; buộc khôi phục các điều kiện phát triển kỹ thuật, công nghệ mà doanh nghiệp đã cản trở; buộc loại bỏ các điều kiện bất lợi đã áp đặt cho khách hàng; buộc khôi phục lại các điều khoản hợp đồng đã thay đổi mà không có lý do chính đáng; buộc khôi phục lại hợp đồng đã hủy bỏ mà không có lý do chính đáng; và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề.
(Nguồn: Công báo số 735 + 736, ngày 05/8/2014)
Ngày 25/8/2014
Chính phủ ban hành Nghị định số 82/2014/NĐ-CP ban hành Quy chế quản lý tài chính của Tập đoàn Điện lực Việt Nam.
Nghị định quy định các nội dung về quy chế quản lý và sử dụng vốn; quản lý và sử dụng tài sản; doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động kinh doanh; lợi nhuận và phân phối lợi nhuận; kế hoạch tài chính, kế toán, kiểm toán; giám sát đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp; giá mua bán điện; quản lý vốn đầu tư vào doanh nghiệp khác của Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Nghị định giao Tập đoàn Điện lực Việt Nam căn cứ vào Quy chế này và pháp luật có liên quan, Hội đồng thành viên Tập đoàn Điện lực Việt Nam có trách nhiệm xây dựng các quy chế tài chính nội bộ để tổ chức công tác quản lý tài chính của các công ty con và các đơn vị trực thuộc của Tập đoàn Điện lực Việt Nam cho phù hợp.
(Nguồn: Công báo số 803 + 804, ngày 06/9/2014)
Ngày 03/9/2014
Chính phủ ban hành Nghị định số 83/2014/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu.
Nghị định quy định điều kiện đối với thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu, thương nhân sản xuất, thương nhân phân phối, tổng đại lý, đại lý, cửa hàng bán lẻ và thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng dầu; quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu, thương nhân sản xuất, thương nhân phân phối, tổng đại lý, đại lý, thương nhân nhận quyền bán lẻ và cửa hàng bán lẻ xăng dầu; thẩm quyền, hồ sơ, trình tự cấp Giấy phép kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu; giấy xác nhận đủ điều kiện làm thương nhân phân phối, tổng đại lý, đại lý, thương nhân nhận quyền bán lẻ và cửa hàng bán lẻ xăng dầu. Nghị định cũng quy định về dự trữ xăng dầu, quỹ bình ổn giá xăng dầu, giá bán xăng dầu, xuất khẩu, tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu, gia công xuất khẩu xăng dầu và nguyên liệu.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công Thương kiểm tra, giám sát thương nhân đầu mối, thương nhân phân phối xăng dầu tuân thủ các điều kiện, quy định; hướng dẫn thực hiện hoạt động kinh doanh, phân phối xăng dầu; hướng dẫn thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu, gia công xuất khẩu xăng dầu và nguyên liệu quy định tại Nghị định này.
(Nguồn: Công báo số 865 + 866, ngày 21/9/2014)
