Năm 2014: Việt Nam tiếp tục xuất siêu

Theo Báo cáo tóm tắt tình hình sản xuất công nghiệp và hoạt động thương mại năm 2014 và kế hoạch năm 2015 của Bộ Công Thương, tổng kim ngạch xuất khẩu (KNXK) năm 2014 ước đạt 150 tỷ USD, vượt 3,16 điể
Xuất siêu năm 2014 ước đạt gần 2 tỷ USD

Tổng kim ngạch nhập khẩu (KNNK) năm 2014 ước đạt 148 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm 2013. Kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt hơn 84,56 tỷ USD, tăng 13,6% và chiếm tỷ trọng hơn 57% tổng KNNK cả nước; kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp 100% vốn trong nước ước đạt hơn 63,49 tỷ USD và chiếm tỷ trọng gần 43% tổng KNNK cả nước, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm 2013.

Xuất siêu năm 2014 ước 1,984 tỷ USD, trong đó, khối doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) xuất siêu hơn 9,8 tỷ USD, nếu kể cả dầu thô khu vực doanh nghiệp đầu tư nước ngoài xuất siêu khoảng 17 tỷ USD. Các doanh nghiệp trong nước nhập siêu khoảng 15 tỷ USD. Việt Nam xuất siêu với thị trường EU, Hoa Kỳ... nhưng vẫn nhập siêu với một số nền kinh tế khu vực châu Á.

Đánh giá chung về xuất nhập khẩu năm 2014

Theo đánh giá của Bộ Công Thương, quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hoá đều vượt mức kế hoạch đề ra, Việt Nam tiếp tục xuất siêu.

Cơ cấu các nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam có những chuyển dịch tích cực, phù hợp với lộ trình thực hiện mục tiêu của Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011-2020, định hướng đến năm 2030. Cụ thể, nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng cao nhất 73,5% (tăng 1,6% so với cùng kỳ), theo sau lần lượt là nhóm hàng nông sản, thủy sản 14,8% (giảm 1%) và nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản 6% (giảm 1,2%).

Tăng trưởng xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến đóng góp vai trò quan trọng trong tăng trưởng, mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện tiếp tục là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất (hơn 24 tỷ USD, chiếm 16% KNXK).

Xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp trong nước đã có sự hồi phục, kim ngạch xuất khẩu của khu vực này ước tăng trưởng ở mức 10,4% (năm 2013 là 3,5%) và kim ngạch nhập khẩu tăng 10,2% (năm 2012 là 5,6%).

Nhóm các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục đóng góp lớn cho tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu.

Xuất khẩu sang thị trường khu vực truyền thống giữ vững: do khủng hoảng kinh tế, tuy sức mua chung của thị trường thế giới suy giảm nhưng các thị trường xuất khẩu truyền thống của Việt Nam như thị trường Đông Nam Á, EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ tiếp tục được giữ vững và tăng trưởng.

Nhập khẩu năm 2014 tiếp tục phục vụ tốt cho nhu cầu sản xuất và xuất khẩu. Nhập khẩu nhóm hàng không khuyến khích đã giảm. Điều này thể hiện việc điều hành kiểm soát nhập khẩu hiệu quả (tuy nhiên cũng thể hiện sức mua của thị trường trong nước đối với hàng tiêu dùng giảm).

Năm 2014 là năm thứ ba liên tiếp (kể từ sau khi gia nhập WTO năm 2007 đến nay), Việt Nam xuất siêu. Năm 2007, nhập siêu với tỷ lệ 29,1%, năm 2008 tỷ lệ 28,8%, năm 2009 tỷ lệ 22,5%, năm 2010 tỷ lệ 17,5%, năm 2011 tỷ lệ 10,1% so với kim ngạch xuất khẩu, nhưng từ năm 2012 đã xuất siêu 749 triệu USD, năm 2013 xuất siêu 300 nghìn USD và năm 2014 ước xuất siêu 1,984 tỷ USD).

Tuy nhiên, xuất nhập khẩu năm 2014 cũng còn một số điểm hạn chế. Đó là: Tăng trưởng xuất khẩu cao vẫn chủ yếu ở những nhóm mặt hàng do khối các doanh nghiệp FDI sản xuất và là những mặt hàng dựa vào thâm dụng lao động và gia công hơn là những mặt hàng có giá trị gia tăng cao; Nhập khẩu và xuất khẩu của khối doanh nghiệp FDI tăng hơn so với doanh nghiệp trong nước; Tỷ lệ nhập khẩu lớn về nguyên, nhiên liệu, nhất là nguyên liệu gia công sản xuất... thể hiện tính gia công trong ngành còn lớn, còn phụ thuộc nhiều vào thị trường cung cấp ở nước ngoài, làm cho nền kinh tế gặp bất lợi mỗi khi giá cả thế giới biến động tăng, làm tăng chi phí sản xuất trong nước, giảm khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu.

Nguyên nhân của hạn chế là do: Kinh tế thế giới phục hồi, tăng trưởng chậm, tiêu dùng hàng hóa trên thị trường thế giới chững lại đã tác động trực tiếp đến tăng trưởng xuất khẩu; xu hướng bảo hộ mậu dịch gia tăng tại một số thị trường xuất khẩu chủ lực của ta (như Hoa Kỳ và EU) đã gây khó khăn, cản trở hàng Việt Nam vào các thị trường này. Giá và lượng xuất khẩu của một số hàng hóa giảm, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực chủ yếu là các mặt hàng gia công, vì vậy giá trị gia tăng thấp, chưa thực sự tham gia được vào chuỗi sản xuất và lưu thông sản phẩm của các tập đoàn đa quốc gia trong khu vực và thế giới. Trong bối cảnh kinh tế gặp khó khăn, tiêu thụ hàng hóa ở trong nước và nước ngoài còn hạn chế đã ảnh hưởng đến tình hình sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp, vì thế nhập khẩu và xuất khẩu của khối các doanh nghiệp trong nước đều tăng thấp hơn so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với tiềm lực về vốn và sự sẵn có về thị trường tiêu thụ nên tăng trưởng xuất khẩu và nhập khẩu đều ở mức cao.