IEA cảnh báo, mục tiêu hạn chế nhiệt độ toàn cầu tăng lên chỉ 20C vào năm 2050 sẽ không thực hiện được nếu không áp dụng công nghệ CCS. Đây được xem là biện pháp bổ sung cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng.
Trong năm 2012, Chính phủ Nam Phi đã thông qua “Lộ trình thu gom và lưu giữ khí các bon” do Trung tâm Thu gom và Lưu giữ khí các bon Nam Phi soạn thảo, coi đây là một trong những biện pháp giảm thiểu phát thải khí CO2. Năm 2010, Nam Phi phát thải vào không khí khoảng 600 triệu tấn CO2. Thông qua lộ trình này, Nam Phi tự nguyện cắt giảm 34% khí phát thải trong năm 2020 và 42% trong năm 2025, với điều kiện nhận được hỗ trợ tài chính và công nghệ CCS. Trên thực tế có những phê phán việc áp dụng CCS, cho rằng đi chệch hướng những nỗ lực thúc đẩy năng lượng tái tạo, kéo dài sử dụng nhiên liệu hoá thạch. Tuy nhiên, IEA coi công nghệ CCS là một ưu tiên chính trong năm 2013 khi lý giải rằng, chi phí cao và thiếu những ưu đãi sẽ làm trì hoãn áp dụng biện pháp quan trọng này nhằm hạn chế thay đổi khí hậu.
Những ưu đãi tài chính cần có để xác định địa điểm và phát triển dự án tại địa điểm lưu giữ, chuẩn bị hạ tầng cơ sở để đặt đường ống dẫn CO2 và lắp đặt thiết bị thu gom, nén CO2 từ các nơi phát sinh khí thải khác nhau.
Theo IEA, nhiên liệu hoá thạch vẫn chiếm tới 45% nhu cầu năng lượng sơ cấp của thế giới vào năm 2050, thậm chí trong kịch bản nhiệt độ tăng 20C, cũng có tên là “2DS”. Công nghệ CCS dưới các tầng địa chất sâu, có thể giúp cắt giảm 20% khí CO2 vào năm 2050, nhưng phải triển khai 3.000 dự án CCS.
Một bài báo của Tạp chí Economist cho rằng, nhu cầu năng lượng của Trung Quốc là một nhân tố chính thúc đẩy nhu cầu nhiên liệu hoá thạch trong những năm qua, quốc gia này đã soán ngôi nước sản xuất điện lớn nhất thế giới năm 2011 của Mỹ. Nhưng các nền kinh tế đang phát triển khác cũng theo đuổi các giải pháp năng lượng dựa vào than. Ví dụ Ấn Độ có thể vượt Mỹ để trở thành nước tiêu thụ than lớn thứ hai thế giới trong năm 2017.
Trong bối cảnh đó, việc tìm địa điểm lưu giữ và phát triển dự án CCS là ưu tiên chính để đảm bảo lưu giữ khí các bon không bị cản trở xây dựng và lắp đặt thiết bị CCS. Các chính phủ cũng cần xác định vai trò của CCS trong cơ cấu năng lượng tương lai của nước mình và cũng cần đưa ra những ưu đãi thiết thực để triển khai các dự án. IEA cũng đang xem xét lại lộ trình công nghệ CCS dưới góc độ mới trong 6 tháng đầu năm 2013. Nam Phi mới xuất bản một Atlas Carbon và chuẩn bị thử nghiệm đầu tiên lộ trình vào năm 2016. Khi quan điểm được chấp thuận, bước tiếp theo là phát triển một nhà máy trình diễn vào năm 2020 để có thể triển khai qui mô thương mại vào năm 2025.
Báo cáo “Viễn cảnh Năng lượng Thế giới 2012” của IEA cho biết nếu không áp dụng công nghệ CCS thì hơn 2/3 trữ lượng nhiên liệu hoá thạch đã được thẩm định không thể được thương mại hoá trong một “thế giới 2DS” trước năm 2050. Thực tế thì công nghệ CCS nhiên liệu hoá thạch đặc biệt quan trọng trong một thế giới mà chúng ta chưa thấy tín hiệu nào giảm tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch.
Chương trình Octavius (Hội nghị thông tin về vài tiến bộ CCS đã được triển khai ở châu Âu) bắt đầu từ tháng 3/2012, là một dự án 5 năm do EC tài trợ. Chương trình được phối hợp bởi Trung tâm Đào tạo và Nghiên cứu khu vực cộng đồng (IFPEN) với mục đích trình diễn các công nghệ thu gom CO2 đạt hiệu quả năng lượng tại những nhà máy trình diễn ở châu Âu.Lodewijk Nell, Giám đốc của EcoMetrix Africa đang tập trung xem xét các giải pháp thu gom các bon nào thích hợp, vì thu gom là một bước tốn kém trong chuỗi vận tải và lưu giữ. Ông cho biết mục đích của tổ chức hội nghị là chia sẻ bài học với Nam Phi, nơi đang chuẩn bị 3 dự án trình diễn và bắt đầu có kết quả để có thể áp dụng vào hoàn cảnh thực tế của Nam Phi.
EcoMetrix Africa đã áp dụng một số kết quả để phát triển mô hình lý thuyết cho ứng dụng một giải pháp thu gom làm tiền đề để sử dụng giải pháp hoá học hấp thụ CO2, công nghệ đang được thử nghiệm tại một nhà máy E.ON ở Rotterdam, Hà Lan. Trong khi đó, IEA cho rằng việc chấp nhận công nghệ CCS tiến triển chậm. Nhưng nhiều công nghệ đã được kiểm nghiệm ở một loạt các ngành công nghiệp trong nhiều thập niên qua. Thực tế, Viện CCS Toàn cầu liệt kê được hơn 70 thiết bị CCS tổng hợp qui mô lớn trên thế giới đang trong những giai đoạn phát triển khác nhau. Điều quan trọng là những dự án này có thể đạt kết quả trong thập kỷ để hoàn thiện công nghệ và cho thấy giá trị của CCS cũng như độ an toàn đối với cộng đồng trong việc thu gom khí các bon nhằm hạn chế tối đa tình trạng biến đổi của khí hậu.
