Tóm tắt:
Nghiên cứu phân tích thực trạng kiểm soát nội bộ (KSNB) công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) trên địa bàn TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2021 - 2024 và sau ngày 01/7/2025 thuộc phường Mỹ Tho, tỉnh Đồng Tháp. Theo đó, tác giả đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện KSNB và góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế TNDN tại địa bàn trong thời gian tới.
Từ khóa: kiểm soát nội bộ, công tác quản lý thuế, thuế thu nhập doanh nghiệp, quản lý thuế, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (cũ).
1. Đặt vấn đề
Xét theo tỷ trọng so với GDP, quy mô thu NSNN từ thuế TNDN (không gồm dầu thô và cả dầu thô), bình quân giai đoạn 2021 - 2023, lần lượt là 3,1% và 3,62%. Dù mức thuế suất thuế TNDN giảm đáng kể (từ 25% xuống 20%) nhưng nhờ sự tăng trưởng và hiệu quả quản lý thuế TNDN, quy mô thu NSNN từ thuế TNDN xét theo cơ cấu trong tổng thu NSNN và so với GDP cơ bản được duy trì.
Tuy vậy, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu thay đổi nhanh chóng cộng với tính phức tạp của luật thuế, các doanh nghiệp (DN) thường khó nắm bắt và tuân thủ các quy định về thuế. Sự gia tăng của các giao dịch quốc tế và những yếu tố không lường trước từ thị trường tài chính quốc tế cũng tạo ra không ít khó khăn cho công tác quản lý thuế. Hơn nữa, sự đa dạng hóa hành vi trốn và gian lận thuế cũng như sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số là những thách thức mới đặt ra đối với các cơ quan thuế (CQT). Theo đó, để kiểm soát sự tuân thủ thuế của DN thì hoàn thiện KSNB trong quản lý thuế TNDN trở thành vấn đề quan trọng.
TP. Mỹ Tho là một trong những trung tâm kinh tế quan trọng của tỉnh Tiền Giang, sau ngày 01/7/2025 trực thuộc tỉnh Đồng Tháp. Sự phát triển nhanh chóng của các DN trên địa bàn đóng góp đáng kể vào ngân sách địa phương nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý thuế. Thực tế cho thấy vẫn còn không ít các DN lợi dụng kẽ hở của pháp luật để trốn thuế, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp trong kê khai dẫn đến gian lận thuế, gây ra tình trạng thất thu cho NSNN.
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý thuyết
2.1.1. Tổng quan về KSNB
Báo cáo COSO (1992) là tài liệu đầu tiên trên thế giới đưa ra định nghĩa về KSNB đầy đủ và có hệ thống. Theo đó, “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu”.
Trong khu vực công, KSNB cũng rất được quan tâm. Hướng dẫn về KSNB của INTOSAI được ban hành năm 1992 và cập nhật năm 2013, đưa ra các quan điểm và hướng dẫn về KSNB trong các đơn vị thuộc khu vực công, cụ thể:
(1) Xác định KSNB là một bộ phận/quy trình không thể thiếu trong tổ chức nhằm đạt được 3 mục tiêu: (i) Hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động, gồm cả việc bảo vệ các nguồn lực không bị thất thoát, hư hỏng hoặc sử dụng sai mục đích; (ii) BCTC đáng tin cậy và (iii) Tuân thủ luật pháp và các quy định.
(2) Xác định các chuẩn mực về hệ thống KSNB trong 5 yếu tố, gồm: (i) Môi trường kiểm soát - MTKS; (ii) Đánh giá rủi ro - ĐGRR; (iii) Hoạt động kiểm soát - HĐKS; (iv) Thông tin và truyền thông - TTTT và (v) Giám sát - GS.
2.1.2. Vai trò của KSNB đối với hiệu quả quản lý thuế TNDN
KSNB đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý thuế TNDN tại các đơn vị. Đặc biệt, khi môi trường kinh doanh ngày càng phức tạp và các quy định pháp luật về thuế liên tục thay đổi, KSNB hữu hiệu sẽ giúp DN đảm bảo việc tuân thủ pháp luật thuế, giảm thiểu rủi ro (RR) sai sót, gian lận, và tối ưu hóa nghĩa vụ thuế.
Từ góc độ của CQT, KSNB đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo tính hiệu quả, minh bạch và công bằng trong quản lý thuế TNDN. Nói cách khác, KSNB hữu hiệu không chỉ giúp CQT thực hiện tốt nhiệm vụ thu NSNN mà còn góp phần xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, giảm thiểu gian lận và tăng cường tuân thủ pháp luật thuế của DN.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm phân tích thực trạng KSNB công tác quản lý thuế TNDN trên địa bàn TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2021 - 2024 và sau ngày 1/7/2025 thuộc địa bàn tỉnh Đồng Tháp, Bảng khảo sát được xây dựng dựa trên tổng hợp các công trình nghiên cứu có liên quan. Các câu trả lời được xây dựng dựa trên thang đo 5 điểm Likert: 1 - Hoàn toàn không quan trọng; 2 - Không quan trọng; 3 - Trung lập; 4 - Quan trọng và 5 - Hoàn toàn quan trọng.
Bảng khảo sát được gửi cho Lãnh đạo Chi cục Thuế TP. Mỹ Tho (gọi tắt là CCT), lãnh đạo các đội thuế và các công chức thuế có liên quan đến thuế TNDN. 65 Bảng khảo sát được thu về, đều đáp ứng các tiêu chí.
3. Thực trạng kiểm soát nội bộ công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (cũ)
3.1. Môi trường kiểm soát
Các khía cạnh được đánh giá quan trọng trở lên (> 70%) được xếp theo thứ tự giảm dần, gồm:
- “Công tác đào tạo chuyên môn” - 84.62%: cho thấy công tác đào tạo chuyên môn được đánh giá rất cao bởi các đối tượng tham gia khảo sát.
- “Phân công nhiệm vụ cho từng công chức thuế” - 80.00%: CCT sẽ hoạt động hiệu quả nếu thực hiện phân công nhiệm vụ cụ thể gắn với trách nhiệm của từng công chức thuế. Bởi, nó giúp cá nhân tự ý thức được trách nhiệm, hoàn thành công việc, tránh tình trạng ỷ lại, so bì với người khác. Đồng thời, cũng là cơ sở để đánh giá đúng thực lực của từng công chức, từ đó có căn cứ thực hiện đề bạc, bổ nhiệm lên những vị trí cao hơn. Song bên cạnh đó, cũng cần chú trọng khuyến khích sự hỗ trợ giữa các đồng nghiệp, tránh xảy ra sai sót và tạo đoàn kết trong nội bộ cơ quan.
- “Trình độ, năng lực, sở trường của công chức thuế” - 76.92%: Thực tế, công việc có đạt được kế hoạch đặt ra hay không, có giải quyết được những vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện hay không yếu tố con người vẫn là quyết định. Nói cách khác, khi nhân viên càng có năng lực, MTKS sẽ càng có hiệu quả. Điều này đúng ngay cả trong thời đại áp dụng công nghệ thông tin, vì con người vẫn là người sử dụng và biến nó thành công cụ để nâng cao hiệu quả xử lý công việc.
- “Xây dựng và thực hiện các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp (ĐĐNN)” - 72.31%: Mọi hoạt động phải thực hiện theo đúng chuẩn mực, đặc biệt phong cách ứng xử đối với cấp trên, lãnh đạo, đồng nghiệp và đặc biệt đối với người nộp thuế (NNT).
3.2. Đánh giá rủi ro (ĐGRR)
Các khía cạnh được đánh giá quan trọng trở lên (> 70%) được xếp theo thứ tự giảm dần, gồm:
- “Phân công công chức thuế theo dõi, nắm bắt, ứng phó với các RR có thể xảy ra” - 73.85%: Để đánh giá và xử lý, các RR cần phải xác định các biện pháp và nguồn lực để ứng phó. Mặt khác, tất cả các RR phải được đánh giá và phân loại hợp lý để công tác xử lý có tính khả thi và mang lại hiệu quả tối ưu. Theo đó, CCT cần phân chia quyền hạn, trách nhiệm giữa các bộ phận và cá nhân với 2 mục đích: (i) hạn chế tối đa sai sót có thể xảy ra trong quá trình tác nghiệp và (ii) giúp các cấp lãnh đạo kiểm soát được toàn bộ hệ thống.
- “Xây dựng bảng tiêu chí đánh giá RR về thuế TNDN” - 73.85%: Việc xây dựng bộ tiêu chí để ĐGRR về thuế là cần thiết nhằm tăng tính công bằng, rõ ràng, minh bạch trong thanh tra và kiểm tra thuế. RR thường được chia làm 4 loại: (i) RR trong đăng ký thuế; (ii) RR về thời hạn tuân thủ; (iii) RR kê khai thuế và (iv) RR nộp thuế; và chúng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác thu thuế của Nhà nước. Tuy CCT đã có xây dựng Bảng tiêu chí ĐGRR nhưng việc áp dụng vào thực tế chưa cao và chưa mang lại những hiệu quả mong đợi.
- “Xử phạt đối với các DN có hành vi trốn thuế nói chung và thuế TNDN nói riêng thường xuyên, với số tiền lớn” - 70.77%: ĐGRR sẽ khó khăn và đạt được hiệu quả nếu có sự thông đồng giữa công chức thuế với DN nhằm thực hiện các hành vi gian lận, trốn thuế và ảnh hưởng lớn đến quá trình thẩm định thuế. Do đó, CCT cần có các biện pháp ngăn ngừa, giáo dục thường xuyên ĐĐNN cho công chức.
3.3. Hoạt động kiểm soát (HĐKS)
Các khía cạnh được đánh giá quan trọng trở lên (> 70%) được xếp theo thứ tự giảm dần, gồm:
- “Phân chia trách nhiệm và quyền hạn giữa các bộ phận” - 80.00%: Việc phân chia các nhiệm vụ cụ thể cho từng công chức giúp đảm bảo tiến độ thực thi công việc gắn với trách nhiệm của từng cá nhân được phân công. Từ đó, giúp hạn chế RR đến mức thấp nhất nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của HĐKS.
- “Luân chuyển, sắp xếp nhân sự theo định kỳ” - 76.93%: Việc luân chuyển, sắp xếp nhân sự theo định kỳ giúp công chức thuế có thể nắm bắt được các nghiệp vụ, các lĩnh vực khác nhau để từ đó có thêm nhiều hiểu biết. Đồng thời, cũng giúp phát huy năng lực của công chức, góp phần nâng cao kỹ năng làm việc và khi cần thiết có thể thực hiện thay thế để giảm bớt sai sót, RR trong quản lý thuế TNDN.
- “Quy trình quản lý thuế được rà soát, điều chỉnh sao cho phù hợp với đơn vị theo định kỳ” - 73.85%: Việc rà soát, điều chỉnh quy trình quản lý thuế sao cho phù hợp với đơn vị theo định kỳ là cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế - xã hội có nhiều biến động dẫn đến hành vi tuân thủ của các DN trên địa bàn cũng bị ảnh hưởng.
- “Sử dụng phần mềm quản lý thông tin của đơn vị” - 73.33%: Việc sử dụng các phần mềm quản lý thông tin trong đơn vị được đánh giá cao bởi nó giúp người quản lý có thể kịp thời thu thập được các thông tin liên quan, hỗ trợ việc quản lý được chặt chẽ, hiệu quả và đồng thời báo cáo kịp thời cho ban lãnh đạo CCT khi cần thiết.
3.4. Thông tin và truyền thông (TTTT)
Kết quả cho thấy các đối tượng khảo sát đánh giá cao tầm quan trọng của “TMS được vận dụng triệt để, kịp thời cung cấp thông tin cần thiết cho người quản lý, nhân viên,…” - 78.46%. Cho thấy việc ứng dụng hệ thống quản lý thuế tập trung - TMS là quan trọng, bởi nó giúp vận dụng triệt để các thành quả của tiến bộ khoa học kỹ thuật, đồng thời cung cấp kịp thời những thông tin cần thiết cho ban lãnh đạo và công chức thuế.
Tuy vậy, việc đẩy mạnh triển khai nộp thuế điện tử cần đảm bảo đạt được 4 chỉ tiêu: (i) số DN đang quản lý thuế trên địa bàn; (ii) số chứng từ nộp thuế; (iii) số tiền thuế thu được trên địa bàn quản lý; (iv) triển khai, hướng dẫn DN sử dụng hóa đơn điện tử.
Trên thực tế, CCT đã khai thác tốt TMS. Có thể nói, việc triển khai ứng dụng TMS đã góp phần hoàn thành kế hoạch cải cách, hiện đại hóa ngành Thuế, là cơ sở để ngành Thuế thực hiện các chỉ đạo của Chính phủ theo Nghị quyết số 19/2014/NQ-CP, Nghị quyết số 19/2015/NQ-CP và Nghị quyết số 19/2016/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đồng thời, TMS cũng là nền tảng để ngành Thuế thực hiện chiến lược cải cách hệ thống thuế, theo đó, là cơ sở để ngành Thuế triển khai mở rộng các dịch vụ điện tử cung cấp cho NNT, như: eTax, iHTKK, NTĐT, hoàn thuế điện tử,...
3.5. Giám sát (GS)
Các khía cạnh được đánh giá quan trọng trở lên (> 70%) được xếp theo thứ tự giảm dần, gồm:
“Các sai sót trong quy trình thuế TNDN xử lý được phát hiện kịp thời, báo cáo lên cấp trên quản lý.” - 73.84%: Việc kịp thời báo cáo cấp trên quản lý các sai sót diễn ra trong quy trình xử lý góp phần hoàn thiện quy trình xử lý hiện tại, phát hiện những lỗ hổng, các sự kiện thiếu hợp lý trong quy trình hoạt động. Nếu thực hiện tốt điều này đồng nghĩa với việc đơn vị đang có một hệ thống kiểm soát và giám sát khá hiệu quả và cũng thể hiện được sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các bộ phận và các công chức trong toàn đơn vị.
“Nâng cao trình độ cho công chức làm công tác kiểm tra, thanh tra thuế.” - 70.77%: Điều này cho thấy rất cần thiết phải nâng cao trình độ cho các công chức làm công tác kiểm tra, thanh tra thuế nhất là trong bối cảnh hành vi không tuân thủ của NNT ngày càng đa dạng, phức tạp và tinh vi như hiện nay.
4. Giải pháp
4.1. Hoàn thiện môi trường kiểm soát
Thứ nhất, cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức chuyên môn, kỹ năng và phương pháp thực hiện nhiệm vụ cho công chức thuế thuộc bộ phận thanh tra, kiểm tra thuế. Sự yếu kém về chuyên môn, kỹ năng sẽ góp phần dẫn đến nhận diện sai RR, kiểm soát sai đối tượng.
Thứ hai, cần khắc phục tình trạng thiếu hụt biên chế ở các bộ phận thanh tra, kiểm tra thuế qua việc thực hiện phân bổ lại nguồn nhân lực cho các bộ phận trong đơn vị hợp lý. Việc phân bổ nên thực hiện theo hướng tinh gọn bộ máy các bộ phận gián tiếp nhằm tập trung nguồn nhân lực tối đa cho các bộ phận quản lý thuế theo chức năng để hoàn thành mục tiêu thu ngân sách được giao.
Thứ ba, cần xây dựng các quy chế liên quan đến ứng xử giữa an lãbnh đạo và công chức thuế tránh tình trạng xa cách, khó trao đổi, gây hạn chế việc thu thập các thông tin thực tế từ phía các công chức thuế - những người sát sao nhất với thực tiễn của công tác quản lý thuế. Hàng tuần, tháng, quý qua các cuộc họp giao ban, ban lãnh đạo cần tạo điều kiện cho công chức bày tỏ những quan điểm, tâm tư, nguyện vọng để nắm bắt kịp thời những vướng mắc, bức xúc của công chức và đưa ra những phương hướng xử lý kịp thời. Ngoài ra, việc xây dựng một chuẩn mực đạo đức, lối ứng xử phù hợp với quy tắc đạo đức và văn hóa cũng giúp cho hình ảnh công chức Nhà nước trong mắt người dân trở nên đẹp hơn, khiến NNT có tâm lý thoải mái và cảm thấy việc nộp thuế là nghĩa vụ của công dân.
Thứ tư, cần xem xét lại chính sách khen thưởng, biểu dương nhằm mang ý nghĩa khích lệ và khuyến khích công chức thuế thực hiện hiệu quả nhiệm vụ được giao.
4.2. Hoàn thiện đánh giá rủi ro
CCT cần quan tâm đến công tác ĐGRR, đặc biệt cần xây dựng hệ thống phân tích ĐGRR để nhận diện được yếu tố nào có khả năng xảy ra nhiều hơn và mức độ tác động của chúng.
Bên cạnh đó, công chức thuế cần đảm bảo trình độ chuyên môn nghiệp vụ trên các lĩnh vực thuế, kế toán và tài chính bởi chính sách thuế luôn đi kèm những nghiệp vụ kế toán. Ngoài ra, họ cũng cần có kỹ năng tổng hợp, đánh giá và phân tích để bao quát các nội dung chính sách, đánh giá những điểm mới của chính sách thuế, phạm vi ảnh hưởng, từ đó nhận dạng, phân tích và ĐGRR để xây dựng kế hoạch, mục tiêu trong công tác quản lý thu thuế.
Song song đó, CCT cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của công chức thuế để có thể nắm bắt kịp thời các phản ánh của NNT về thái độ, hành vi của công chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhằm có các biện pháp chấn chỉnh.
Để khắc phục những hạn chế trong công tác ĐGRR liên quan đến gian lận về thuế của NNT chưa chính xác hoặc bỏ sót nhiều đối tượng có RR cao trong quá trình lập danh sách đưa vào kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm gây ảnh hưởng tiêu cực đối với hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế thì CCT cần cải tiến quy trình các bước thực hiện cũng như phân chia lại quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm cho từng công chức thuế khi thực hiện. Mặt khác, ưu tiên thực hiện kiểm tra đối với các DN có quy mô lớn, kinh doanh đa ngành nghề. Bởi, đây là những đối tượng có RR cao, hành vi trốn thuế tinh vi nên cần tập trung nguồn nhân lực để tiến hành kiểm tra, cũng như cần tăng cường kiểm tra các DN có tiền sử trốn thuế.
Ngoài ra, khi các RR được phát hiện, công chức thuế phải chủ động trao đổi với Ban lãnh đạo hoặc các bộ phận liên quan để kịp thời có những giải pháp ứng phó và khắc phục.
CCT cũng cần xây dựng các mục tiêu thu phù hợp với tình hình kinh doanh của DN trên địa bàn, bám sát thực tế bởi tình hình kinh tế - xã hội biến động không ngừng.
4.3. Hoàn thiện hoạt động kiểm soát
Một là, để khắc phục những hạn chế trong công tác kiểm tra, xác minh, đối chiếu trong kiểm soát hồ sơ kê khai thuế của NNT tại CQT, CCT phải căn cứ vào Quyết định số 970/QĐ-TCT của Cục Thuế ngày 14/7/2023 về việc ban hành quy trình kiểm tra thuế để xây dựng lại quy trình thực hiện kiểm soát hồ sơ khai thuế của NNT chặt chẽ hơn.
Hai là, để phát huy tác dụng của công tác luân phiên, luân chuyển trong ngăn ngừa các hành vi sai phạm của công chức thuế, CCT cần thực hiện công tác này triệt để và đúng quy định căn cứ trên thực trạng công tác của từng công chức thuế thuộc các bộ phận thanh tra, kiểm tra thuế. Đặc biệt, ban lãnh đạo Ccần tập trung chú ý thực hiện phân công sao cho việc kiểm tra nghĩa vụ nộp thuế của DN phải được tiến hành độc lập bởi các công chức thuế khác với công chức quản lý thuế TNDN trực tiếp. Bởi, có như vậy, công tác kiểm tra mới mang lại hiệu quả, tránh tình trạng thông đồng có thể xảy ra giữa công chức thuế và DN.
Ba là, định kỳ, Ban lãnh đạo cần tổ chức các cuộc họp nhằm so sánh kết quả thực hiện so với kế hoạch để có sự điều chỉnh hành động kịp thời và phù hợp đặc biệt trong bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội, tổ chức, chính trị có xu hướng biến động không ngừng trong thời gian qua.
4.4. Hoàn thiện thông tin và truyền thông
Thứ nhất, nâng cao chất lượng thông tin trên các ứng dụng quản lý thuế bằng giải pháp chuẩn hóa dữ liệu đầu vào và duy trì công tác nhập dữ liệu trên TMS qua việc thành lập
“Ban quản lý TMS”. Ban này sẽ phải chịu những trách nhiệm: (i) Kiểm tra việc thực hiện của các bộ phận trong việc rà soát lại tính chính xác, tính đầy đủ của những dữ liệu hiện có trên các hệ thống ứng dụng; (ii) Kiểm tra việc thực hiện trách nhiệm cập nhật dữ liệu phát sinh mới vào hệ thống của các bộ phận quản lý thuế; (iii) Phân quyền truy cập vào các phần hành trong hệ thống cho từng công chức thuế để đảm bảo tính bảo mật và giải quyết các sự cố xảy ra trong quá trình cập nhật, truy xuất dữ liệu trên hệ thống.
Thứ hai, quy định cụ thể nhiệm vụ của các bộ phận về việc cung cấp thông tin cho các bộ phận liên quan theo đúng nội dung yêu cầu và thời gian quy định để đảm bảo thông tin luôn được kịp thời, đầy đủ, chính xác phục vụ cho công tác chuyên môn và có biện pháp xử lý nếu chậm trễ hoặc sai sót về thông tin đã cung cấp.
Thứ ba, nâng cao chất lượng hệ thống ứng dụng phần mềm quản lý thuế và khả năng sử dụng của công chức thuế. Cụ thể:
Để nâng cao chất lượng của TMS cần nâng cấp và khắc phục các lỗi cũng như các lỗ hổng của các phần mềm bằng việc quy định cụ thể trách nhiệm của bộ phận phụ trách công nghệ thông tin: (i) Đối với các lỗi phần mềm, ứng dụng thuộc quản lý của Cục Thuế, từ ngày 15/12 đến ngày 31/12 mỗi năm, phải lập báo cáo bằng văn bản và đề xuất hướng xử lý trình lãnh đạo Cục phê duyệt để gửi đề nghị lên Cục Thuế xin ý kiến xử lý kịp thời nhằm tránh ảnh hưởng đến hiệu quả công tác; (ii) Đối với những phần mềm, ứng dụng thuộc thẩm quyền quản lý, sử dụng của Cục Thuế phải lập báo cáo bằng văn bản định kỳ 6 tháng về tình hình triển khai, sử dụng các phần mềm phục vụ công tác quản lý thuế. Trên cơ sở đó, CCT xây dựng kế hoạch, kinh phí nâng cấp, mua phần mềm, ứng dụng thay thế.
Để nâng cao khả năng sử dụng hệ thống ứng dụng của công chức thuế cần: (i) Quy định cụ thể nhiệm vụ cho từng công chức thuế thuộc bộ phận công nghệ thông tin trong việc hỗ trợ sử dụng từng phần mềm, từng ứng dụng quản lý thuế tập trung TMS. (ii) Định kỳ mỗi năm tiến hành kiểm tra, đánh giá khả năng sử dụng của từng công chức để lên kế hoạch mở các lớp đào tạo, tập huấn kỹ năng.
Ngoài ra, CCT cũng cần tăng cường phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban ngành trên địa bàn nhằm chia sẻ thông tin và hỗ trợ trong công tác quản lý chống thất thu thuế.
Mặt khác, ban lãnh đạo CCT cần tích cực tiếp nhận những đề xuất cải tiến hay những bất cập trong quản lý từ các công chức thuế trong CCT để có thể nắm bắt những vấn đề phát sinh trong quá trình xử lý công tác, có cơ sở đưa ra những giải pháp xử lý, ứng phó kịp thời. Theo đó, cần tạo các cuộc họp trao đổi, những kênh tiếp nhận thông tin nội bộ trong đơn vị nhằm thuận lợi cho việc cung cấp thông tin của công chức thuế.
4.5. Hoàn thiện giám sát
Để khắc phục những hạn chế liên quan đến giám sát (GS) việc tuân thủ pháp luật của công chức thuế trong quá trình thực thi công vụ, bên cạnh công tác GS thường xuyên theo nội dung đã quy định, GS định kỳ theo kế hoạch hay công tác điều tra, xác minh khi có khiếu nại, tố cáo từ NNT, từ truyền thông hoặc từ cơ quan, ban, ngành khác,… cần tăng cường công tác GS hành vi vi phạm của công chức thuế qua các biện pháp chủ động như:
- Khảo sát ý kiến của NNT về thái độ, hành vi của công chức thuế khi thực hiện công vụ qua: các buổi đối thoại với NNT; trực tiếp đến cơ sở NNT,... và phiếu khảo sát không định danh cụ thể để tránh tâm lý e dè, sợ sệt. Dựa trên kết quả khảo sát, công chức thực hiện GS sẽ lên kế hoạch kiểm tra, xác minh công tác thực thi công vụ với những công chức thuế có dấu hiệu vi phạm và trình lãnh đạo CCT phê duyệt.
- Thực hiện kiểm tra, xác minh theo kế hoạch được phê duyệt theo đúng quy trình GS nội bộ của ngành Thuế và xử lý nghiêm những sai phạm khi xác minh là có vi phạm để nâng cao tính kỷ luật của công chức thuế.
Bên cạnh đó, ban lãnh đạo CCT, cụ thể là Chi cục trưởng cần tạo điều kiện thuận lợi và các kênh thông tin hiệu quả cho phép Đội kiểm tra thuế báo cáo trực tiếp và kịp thời khi phát hiện ra những hành vi sai phạm của công chức thuế, từ đó có những biện pháp ứng phó phù hợp và hiệu quả, tránh gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với mục tiêu chung của đơn vị.
5. Kết luận
Thuế TNDN là sắc thuế quan trọng, có số thu đáng kể trong tổng số thu về thuế của NSNN, đồng thời có phạm vi điều chỉnh rộng đến mọi hoạt động của nền kinh tế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nhiều DN còn có kế toán tùy tiện các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, thậm chí vi phạm pháp luật thuế, cũng như chế độ kế toán. Do đó, việc nghiên cứu và đánh giá thực trạng KSNB công tác quản lý thuế TNDN tại CCT TP. Mỹ Tho và từ ngày 01/7/2025 là thuế cơ sở 1 tỉnh Đồng Tháp nói riêng và tại các CQT nói chung là cần thiết, nhằm hoàn thiện, góp phần đảm bảo nguồn thu cho NSNN.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Cục Thuế - Bộ Tài chính (2023). Quyết định Ban hành quy trình kiểm tra thuế.
Chính phủ (2014). Nghị quyết số 19-2014/NQ-CP Về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Chính phủ (2015). Nghị quyết số 19-2015/NQ-CP Về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia 2 năm 2015 - 2016.
Chính phủ (2016). Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP Về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016 - 2017, định hướng đến năm 2020.
COSO (1992). Internal control - Integrated framework, The Institute of Monitoringors.
INTOSAI (2013). INTOSAI GOV 9160 - Enhancing Good Governance for Public Assets Guiding Principles for Implementation, USA.
Enhancing the effectiveness of internal control in corporate income tax management in My Tho City, Tien Giang province
NGUYEN THI THIEN TRANG
Ho Chi Minh City University of Technology
Abstract:
This study examines the current status of internal control (IC) in corporate income tax (CIT) management in My Tho City, Tien Giang province during the period 2021–2024, and in My Tho ward, Dong Thap province after July 1, 2025. Through an analysis of existing practices and administrative mechanisms, the research identifies key limitations in internal control processes that affect the efficiency of tax management. Based on these findings, the study proposes a set of solutions aimed at strengthening internal control systems, enhancing transparency, and improving the overall effectiveness of CIT administration in the studied areas.
Keywords: internal control, tax management, corporate income tax, tax management, My Tho city, Tien Giang province (former).
DOI: https://doi.org/10.62831/202526024.
