Nhớ một buổi chiều muộn dừng chân ở một quán nhỏ ven đường cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 30 cây số, trước mặt là sông nước mênh mông, bỗng từ góc nào đó cất lên giọng ca khê khê, nhừa nhựa, thấm nỗi mệt mỏi đến ê ẩm: "Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kinh ngã 7, sao cô gái năm xưa chẳng thấy ra chào…". Thoạt nghe cũng biết một người lao động nào đó đang hứng tác trên chiếu nhậu sau một ngày bươn chải kiếm sống. Nhưng không vì thế mà những bạn nhậu của người ca kém phần hào hứng. Họ gõ thìa gõ chén phụ họa, ồ à tán thưởng cho mỗi đoạn "xuống xề" đúng điệu. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi nghe trọn một bài vọng cổ qua "Tình anh bán chiếu". Tự nhiên cảm giác bâng khuâng lan tỏa trong cảnh chạng vạng sông nước, nhưng thật kỳ lạ nó cũng xua đi sự uể oải của tôi sau một chặng đường dài. Sau lần đó, tôi dần dần hiểu thêm một khía cạnh trong khí chất người Nam bộ. Nó được truyền trong huyết quản từ thuở những người khai khẩn đầu tiên đến từ miền Bắc, miền Trung… quả cảm dấn bước vào mảnh đất còn hoang sơ với bạt ngàn sông rạch, lúc nào cũng có thể mất mạng vì thú dữ, bệnh tật, giặc cướp. Họ dựng nhà, phát hoang, gieo hạt, săn bắt… và tràn đầy hy vọng một tương lai tốt đẹp ở miền đất được ông Trời ưu đãi giàu sản vật nhưng cũng luôn đau đáu nỗi sầu xa xứ. Họ gần và hiểu thơ Nguyễn Đình Chiểu hơn thơ Nguyễn Du, thích những gương nghĩa liệt trong văn hóa Á Đông, mà nhiều nhất là sử sách Trung Hoa, ghiền nghe cải lương, vọng cổ 6 câu mùi mẫn. Nhưng cũng là họ, đã "liều mình như chẳng có" vác gậy tầm vông theo các lãnh binh Nguyễn Trung Trực, Trương Công Định đánh những trận dữ dằn khiến quân xâm lược có vũ khí hiện đại gấp nhiều lần phải kinh hoàng bạt vía. Hay những anh hùng vốn xuất thân là dân anh chị giang hồ tự bỏ tiền mua vũ khí, mộ quân đứng vào hàng ngũ vệ quốc đoàn thời kháng chiến chống Pháp. Khí chất mộc mạc, hồn hậu nhưng quả cảm đó từng được thi tướng Huỳnh Văn Nghệ đúc kết qua khổ thơ bất hủ:
Ai về xứ Bắc ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.
Cần Thơ đang mùa khô, nắng rát da nhưng thật may mắn, khi xong xuôi công việc, nhận lời mời ngồi nhậu của người bạn ở bến Ninh Kiều thì trời có mưa, gió phần phật mát lịm người. Thật lạ, ngồi trên bờ chỉ cảm nhận được hơi nước phả lên nhưng mặt sông trắng xóa mưa ào ào. Tới khi ngớt thì ở gần tạnh trước, lại đến chỗ xa tít bắt đầu mưa.
Từ khi có đất Cần Thơ, bến Ninh Kiều đã là một địa điểm vận chuyển hàng hóa, giao thương sầm uất, nhộn nhịp. Nhưng người Cần Thơ lại thích hình dung về bến Ninh Kiều theo cách khác với hơi hướng man mác, hợp tan như cuộc sống sông nước của vùng Nam bộ:
Có dòng sông đẹp với nhiều giai nhân
Cuộc đời luống những phù vân
Trở về bến cũ cố nhân xa rời.
Người bạn nghe đọc khổ thơ đã giễu nhẹ tôi là chuyện trở về bến cũ cố nhân xa rời ở đâu chả có, cứ gì Cần Thơ, thôi zô đã rồi nếm thử món dế bằm chiên xúc bánh tráng này... Ừ thì zô, cách sống đất phương Nam là vậy, cảm khái thế thôi nhưng nghĩ lâu nhức đầu. Chúng tôi rời Cần Thơ khi đã xẩm tối. Bến Ninh Kiều bắt đầu đông người ra hóng mát, dạo chơi, những đôi trai gái hẹn hò giống như bài hát của Trần Thiện Thanh từ quán cà phê nào đó văng vẳng:
...Về bến Ninh Kiều thấy chàng đợi người yêu
Em xinh tươi trong chiếc áo bà ba
Em đi mau kẻo trễ chuyến phà đêm
Qua bến bắc Cần Thơ...
Cầu Mỹ Thuận chứ nhỉ, đâu còn phải đi phà nữa. Nhưng điều đó có quan trọng gì khi câu hát đó khiến lòng người đi rồi vẫn muốn ở lại Cần Thơ.
