Tổng kim ngạch thương mại song phương từ chỗ chỉ đạt hơn 30 triệu USD năm 1991 đã tăng lên 41 tỷ USD năm 2012 và đạt gần 50 tỷ USD trong năm 2013, tạo tiền đề để đạt mục tiêu nâng tổng kim ngạch song phương lên 60 tỷ USD vào năm 2015 (Tổng cục Thống kê). Tuy nhiên, hiện Việt Nam đang nhập siêu vào việc nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc. Những mặt hàng nhập khẩu chính từ Trung Quốc là hàng tiêu dùng; thiết bị máy móc, phụ tùng; xăng dầu; sắt thép; phân bón; nguyên phụ liệu dệt may.
Sự biến động của đồng Nhân dân tệ và chiến lược của Trung Quốc
Trong một thời gian dài Nhân dân tệ ổn định nhờ chính sách neo chặt tỷ giá 8,25 Nhân dân tệ đổi một USD của Chính phủ Trung Quốc. Năm 2005, Trung Quốc bắt đầu cho phép Nhân dân tệ được linh hoạt dao động trong một biên độ hẹp ±0,5%. Tháng 7/2008, kinh tế thế giới bước vào giai đoạn khó khăn khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu và Trung Quốc đã đặt ra chiến lược kìm giá nội tệ ở mức 6,83 Nhân dân tệ đổi một USD trong vòng 2 năm nhằm mục đích xuất khẩu hàng hóa đi khắp nơi và chiếm lĩnh thị trường thế giới với giá rẻ nhất mà không một quốc gia nào cạnh tranh được. Tháng 6/2010, dưới áp lực lớn từ cộng đồng quốc tế, đặc biệt là Mỹ đã yêu cầu Trung Quốc phải thả nổi Nhân dân tệ, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc tuyên bố cho phép tỷ giá Nhân dân tệ biến động linh hoạt hơn với biên độ dao động 1%. Tỷ giá tại thời điểm đó là 1 USD = 6,7980 Nhân dân tệ, hiện nay 1 USD = 6,0514 Nhân dân tệ (theo số liệu của Bloomberg), như vậy Nhân dân tệ đã tăng khoảng 12,3%.
Hiện nay, Trung Quốc đã và đang thực hiện Chiến lược quốc tế hóa Nhân dân tệ bắt đầu từ đầu những năm 1990 gồm 3 bước: láng giềng hóa, khu vực hóa và quốc tế hóa. Cụ thể, 10 năm đầu tiên, Trung Quốc sẽ đưa đồng Nhân dân tệ thành tiền tệ thanh toán thương mại với các nước láng giềng; 10 năm tiếp theo, đồng Nhân dân tệ sẽ được sử dụng trong các hoạt động đầu tư mang tính khu vực và 10 năm cuối, Nhân dân tệ sẽ trở thành tiền tệ dự trữ quốc tế tương tự như đồng USD từ trước tới nay.
Tác động đến nền kinh tế Việt Nam
Việc Nhân dân tệ tăng giá mở ra cơ hội lẫn khó khăn và thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam, mở ra yêu cầu bức thiết là Việt Nam cần có những giải pháp kịp thời để tận dụng tối đa cơ hội và vượt qua khó khăn thử thách nhằm đưa nền kinh tế vươn lên.
Thứ nhất, về mặt lý thuyết, Nhân dân tệ tăng giá đồng nghĩa với việc năng lực sản xuất cũng như sức cạnh tranh thương mại quốc tế của Trung Quốc bị suy giảm. Hàng hóa của Trung Quốc xuất khẩu vào thị trường Việt Nam sẽ đắt lên tương đối so với hàng hóa sản xuất trong nước, dẫn đến sự hạn chế nhập khẩu hàng từ Trung Quốc và khuyến khích hàng Việt Nam tiêu dùng tại thị trường nội địa và xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc; giúp cải thiện cán cân thương mại song phương Việt Nam - Trung Quốc.
Thứ hai, Nhân dân tệ tăng giá sẽ làm cho môi trường đầu tư tại Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn. Các nhà đầu tư của Trung Quốc sẽ dịch chuyển luồng tiền từ đầu tư trong nước ra ngoài nước để hưởng lợi thế đồng Nhân dân tệ tăng giá. Theo thống kê của Cục Đầu tư Nước ngoài cũng cho thấy một cú “đại nhảy vọt” của dòng vốn đầu tư trực tiếp (FDI) từ Trung Quốc vào Việt Nam năm 2013 đạt mức hơn 2,3 tỉ USD so với 345 triệu USD của năm 2012. Không chỉ dòng vốn từ Trung Quốc, các dòng vốn FDI từ các quốc gia khác vào Trung Quốc cũng sẽ chuyển dịch sang Việt Nam bởi việc lương tối thiểu tăng cao song hành cùng với đồng Nhân dân tệ tăng giá khiến các tập đoàn đa quốc gia muốn tìm kiếm các điểm đầu tư mới nơi có nguồn nhân lực lớn và thị trường trong nước hấp dẫn như Việt Nam. Theo công bố của Bộ Thương mại Trung Quốc, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc năm 2012 đã lần đầu tiên sụt giảm kể từ sau khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu chạm đáy năm 2009.
Bên cạnh những cơ hội mở ra, việc Nhân dân tệ tăng giá mang lại không ít khó khăn, thách thức cho nền kinh tế sản xuất với trình độ tương đối thấp của Việt Nam hiện nay.
Như đã đề cập ở trên, tận dụng việc Nhân dân tệ tăng giá, Việt Nam sẽ giành lấy cơ hội tăng cường xuất khẩu sang Trung Quốc. Tuy nhiên, để tận dụng thành công cơ hội này là rất khó khi theo thống kê, khoảng 70% nguyên liệu đầu vào dùng để sản xuất hàng xuất khẩu của Việt Nam đều được nhập khẩu từ Trung Quốc (một ví dụ điển hình là nguồn nguyên liệu sợi cho ngành May mặc). Do đó, Nhân dân tệ tăng giá đồng nghĩa với chi phí nguyên liệu đầu vào tăng cao cùng với một năng lực sản xuất chưa hoàn thiện, khả năng tài chính để đầu tư vào công nghệ cao nhằm giảm giá thành còn hạn chế làm giá bán sản phẩm sẽ tăng cao.
Thêm vào đó, lượng cung nguyên vật liệu từ Trung Quốc có thể sụt giảm mạnh bởi các doanh nghiệp Trung Quốc có thể sử dụng những nguyên liệu đầu vào này để sản xuất những sản phẩm hoàn thiện hơn với giá trị gia tăng cao hơn thay vì xuất khẩu sang Việt Nam như trước.
Giải pháp
Có thể thấy việc cải thiện cán cân thương mại là có thể thực hiện được nếu Chính phủ có những chính sách phù hợp điều chỉnh cơ cấu hàng xuất khẩu và tự bản thân các doanh nghiệp Việt Nam phải thay đổi.
Về phía Chính phủ, thứ nhất nên lựa chọn chế độ tỷ giá phù hợp dựa vào rổ tiền tệ nhất định thay vì neo chặt tỷ giá với USD như hiện nay. Có như thế mới tránh được những biến động thay đổi tỷ giá mạnh giữa đồng Việt Nam và Nhân dân tệ. Thứ hai, cần phải đẩy mạnh đầu tư vào ngành công nghiệp phụ trợ và sản xuất nguyên liệu hỗ trợ. Thứ ba, Chính phủ nên tránh cái bẫy tăng xuất khẩu sản phẩm thô để cải thiện cán cân thương mại với Trung Quốc. Thứ tư, tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong nước tiếp cận và mở rộng thị trường trong nước. Cần tạo ra những chiến dịch tuyên truyền việc sử dụng hàng Việt Nam và có chính sách hỗ trợ tối đa cho những doanh nghiệp sản xuất những mặt hàng thiết yếu nhằm cạnh tranh với hàng Trung Quốc.
Về phía các doanh nghiệp trong nước, cần phải chủ động tìm kiếm các thị trường nhập khẩu nguyên liệu đầu vào khác để tránh phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc. Đặc biệt, tìm kiếm, tận dụng và đầu tư vào những nguồn nguyên liệu có sẵn trong nước để tránh tình trạng thiếu hụt khi doanh nghiệp Trung Quốc rời khỏi thị trường. Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt Nam cần có một chiến lược phát triển rõ ràng, dựa trên năng lực và công nghệ của bản thân thay vì dựa trên đầu vào giá rẻ đến từ Trung Quốc. Chúng ta nên tập trung vào nâng cao chất lượng và mẫu mã sản phẩm để cạnh tranh thay vì cạnh tranh về giá. Các doanh nghiệp cần nâng cao kiến thức về pháp luật kinh doanh ở cả Việt Nam và Trung Quốc nhằm tránh bị thiệt khi hợp tác kinh doanh với các doanh nghiệp nước bạn.
