Nhất nghệ tinh

Câu chuyện nhất nghệ tinh mà họa sĩ Phan Cẩm Thượng chia sẻ cùng Tạp chí Công Thương đã thu được sự đồng điệu của nhiều bạn đọc. Từ vị giám đốc doanh nghiệp tới nghệ nhân nghề thủ công, từ chiến lược

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc những suy ngẫm, chiêm nghiệm những câu chuyện Nhất nghệ tinh của ngày xưa và nhất nghệ tinh của thời nay.

Câu tục ngữ trên có thể hiểu là: Một nghề tinh thông. Một đời vinh hiển. Hay dân gian ta nói cách khác rằng: Một nghề thì sống. Đống nghề thì chết. Đó là quan niệm của người ngày xưa, với lời khuyên nhủ không nên tham học và làm nhiều nghề, mà hãy làm một nghề cho thành thạo. Cho đến nay, với sự phát triển của khoa học, con người ngày càng phải chuyên môn hóa, đến mức cực hẹp, thì sự chuyên giỏi một nghề càng cần thiết. Và người ta hiểu rằng nhân vô thập toàn – tức là khả năng con người có hạn, không ai, hay rất ít ai có nhiều khả năng, thì nên phát huy khả năng nào là phù hợp và tốt nhất với mình.

Nền giáo dục của ta từ năm 1954 tới nay đã đặt tiêu chí học sinh giỏi toàn diện, tức là một học sinh giỏi thì phải giỏi cả toán, lý, hóa, văn, sử, địa. Tiêu chí đó có vẻ như đi ngược với việc đào tạo con người theo hướng chuyên môn hóa, trong khi các nền giáo dục tiên tiến đã đặt một tiêu chí khác: học sinh giỏi là giỏi một môn, còn các môn khác đạt yêu cầu. Việc học giỏi một môn và đi sâu vào một môn có thể bắt đầu ngay từ cấp hai ở phổ thông cơ sở, và sau đó, sau khi tốt nghiệp phổ thông cơ sở không nhất thiết học sinh phải vào đại học, mà có thể học nghề đi làm, hoặc học cao đẳng nghề. Sau này ai muốn học đại học bất kỳ lúc nào cũng được.

Cái câu nói: Trong mỗi con người đều có một Raphael - hoàn toàn có tính lý thuyết, trên thực tế, 90% người ta là người bình thường với năng lực bình thường, để trở thành người lao động. Chỉ có một số rất ít trở thành nghệ sỹ, nhà khoa học với năng lực sáng tạo đặc biệt và trên thực tế, những người đặc biệt đó biết học lệch và phát triển thiên hướng của mình ngay từ phổ thông cơ sở. Trí tuệ con người cũng có hạn, không thể nhồi nhét đủ mọi thứ để đến một lúc nào đó nó dừng lại với những học vấn vô bổ và không dùng được vào thực tế lao động. Học quá nhiều, không những người ta không giỏi mà còn không bao giờ đi sâu vào một chuyên môn. Trong quá trình sống và lao động, nếu có chuyên môn tốt, người ta tự biết học bổ sung cái gì, vừa là kiến thức văn hóa chung vừa là phục vụ chuyên môn.

Nhìn lại xã hội phong kiến xưa với hơn 90% là nông dân, việc học nghề nông không quá khó, nhất là ai nấy tham gia lao động chân tay từ nhỏ, số ít học nghề thủ công và học chữ Nho làm kẻ sỹ, cái câu Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh chủ yếu nói về thợ thủ công và tất nhiên có cả những nghề khác trong xã hội, mà người xưa tóm tắt trong bốn giai tầng sỹ, nông, công, thương và trong nông thì có: canh, tiều, ngư, mục (cày ruộng, hái củi, bắt cá, chăn gia súc). Một phường thợ xưa phân cấp rất rõ ràng giữa các mức độ tay nghề, ví dụ một phường sơn thếp, thì ngồi từ ngoài sân vào trong nhà là từ thợ học việc đến thợ cả, tức là từ việc bả sơn, hom bó, thếp bạc… cho đến tô vẽ, trong đó thợ cả làm được tất cả các khâu và biết chỉ huy. Phường tranh dân gian thì thợ cả là người vẽ mẫu chính, khắc chính, còn in tranh, quét điệp cần chuyên môn vừa phải hơn. Cứ thế, ngành nào cũng có thợ cả, thợ phó, thợ phụ, thợ học việc, có thể tương đương với lối phân bậc như thời đầu hòa bình, thợ bậc 7 là cao nhất chẳng hạn. Để làm một ngôi đình cần vài hiệp thợ khác nhau: Thợ nề lo việc xây cất bằng gạch và vôi, mật, tay nghề cao nhất là đắp các phù điêu và con giống bằng chất kết dính và mảnh gốm; Thợ ngõa lo việc làm ngói, gạch lát nền, tay nghề cao nhất là làm các ống dẫn thoát nước, đầu đao, con giống bằng gốm sành và đất nung; Thợ mộc làm vì kèo, chạm khắc trang trí, tay nghề cao nhất là thợ cả thiết kế, lập thông số; Thợ sơn làm sơn thếp trang trí. Ngôi đình ra đời thể hiện mức độ nghề nghiệp cao nhất của xây dựng xã hội vì thế nó là tựu trung của tinh thần văn hóa và đỉnh cao của nghề truyền thống. Cho đến thời Pháp thuộc, khi các làng nghề có xu hướng phá sản, rất nhiều thợ giỏi tham gia vào lao động mới, đặc biệt trong các đô thị. Người ta thường nhớ những người thợ quét vôi ở Hà Nội xưa, gia chủ cứ việc ăn cơm, thợ vẫn quét vôi trần, mà không rơi xuống một giọt.

Tình hình sản xuất ngày nay đã thay đổi căn bản về phương thức và liên kết xã hội. Các quy trình công nghiệp và cơ giới hóa đã làm thay hầu hết các lao động thủ công, khiến thợ thủ công giỏi ngày càng hiếm. Đây là vấn nạn của tất cả các xã hội phát triển công nghiệp khiến người ta chú ý hơn việc bảo lưu các tay nghề thủ công truyền thống. Ví dụ nghệ nhân rèn kiếm Nhật Bản, mỗi năm chỉ làm 12 thanh kiếm. Thợ thủ công truyền thống giỏi của ta, ngoài cái bằng nghệ nhân thì không có một thực tế bảo lưu nào cả, nên khi chết đi họ mang theo luôn cả tay nghề mà không truyền được cho ai. Những thợ bậc 7 giỏi đào tạo thời Pháp thuộc và đầu hòa bình (1954) đến nay cũng hy hữu, đó là một thực tế của sự suy thoái tay nghề chuyên môn, mà đáng lẽ chương trình đào tạo 20 ngàn tiến sỹ nên thay bằng 20 ngàn thợ bậc 7. Nhất nghệ tinh mới hình thành theo cách khác đó là các nhà chuyên môn trong thị trường chứng khoán, công nghệ thông tin, nhà khoa học trong hóa sinh vật, công nghệ gien, các nhà phân tích kinh tế và văn hóa xã hội… Tất cả những điều này còn xa lạ với hệ thống giáo dục nặng nề và không thực tế của ta, và người ta luôn quên mất một điều là không ai đào tạo được những chuyên gia giỏi, ngoài chính bản thân sự đào luyện của họ, cho nên chế độ bằng cấp thực sự là hủy hoại những nhân tài xã hội, vốn là tự đào tạo mình trong một nền giáo dục tự chủ và hướng đến tương lai.
Phan Cẩm Thượng