Nhìn lại chặng đường 30 năm xây dựng và phát triển ngành Dầu khí Việt Nam

Ngày 3/9/1975, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 170/CP thành lập Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam, tiền thân của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam ngày nay. Chỉ một năm sau ngày thành lập, ngày 25/

 

Ngày 29/12/1988 Liên doanh đã khai thác đạt tấn dầu thứ 1 triệu ở mỏ Bạch Hổ, ngày 02/3/1992 sản lượng dầu thô khai thác được đã là 10 triệu tấn; Mỏ Đại Hùng khai thác tấn dầu đầu tiên vào ngày 14/10/1994, mỏ Rồng cho tấn dầu đầu tiên vào tháng 12 cùng năm. Ngày 28/8/1997 đánh dấu sự kiện tấn dầu thứ 50 triệu được khai thác, ngày 13/02/2001 tấn dầu thứ 100 triệu đã được khai thác, ngày 20/12/2003 đạt con số 150 triệu tấn và đến 12/6/2005, ngành Dầu khí đã khai thác tấn dầu quy đổi thứ 200 triệu.

Kể từ năm 1997 đến nay, ngành Dầu khí Việt Nam đã khai thác được trên 200 triệu tấn dầu quy đổi, tổng doanh thu đạt trên 34 tỷ USD mang từ nguồn thu cho nhân sách Nhà nước trên 18 tỷ USD. Tính trung bình, mỗi năm, ngành Dầu khí đã đóng góp khoảng 25% tổng thu ngân sách Nhà nước. 

Ngành Dầu khí Việt Nam hôm nay đã có vị trí trong bảng thống kê cộng đồng các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ trên thế giới và đứng thứ tư ở khu vực Đông Nam á về khai thác và xuất khẩu dầu thô, sau Malaysia, Indonesia và Bruney.

Từ khi có chính sách đổi mới, mở cửa của Đảng và Nhà nước, đặc biệt sau khi có Nghị quyết 15 ngày 07/7/1988 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VI, Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Dầu khí, ngành Dầu khí đã bước vào giai đoạn phát triển cả về lượng và chất. Nếu như trước đây chỉ tiến hành tìm kiếm thăm dò dầu khí ở khu vực đồng bằng sông Hồng, với từng bước đi vững chắc, nay ta đã vươn ra biển khơi, đã ký được 49 hợp đồng tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí dưới nhiều hình thức với các công ty, tập đoàn nước ngoài với tổng vốn đầu tư gần 7 tỷ USD, đã phát hiện nhiều mỏ dầu, mỏ khí, nhiều mỏ đã được đưa vào khai thác như: mỏ Rồng, Đại Hùng, Ruby, Rạng Đông, Lan Tây, Sư Tử Đen, Ruby v.v... và gia tăng khai thác mỏ khí Tiền Hải C. Đã triển khai nhiều dự án hợp tác nghiên cứu khảo sát, đánh giá tổng thể tiềm năng dầu khí Việt Nam, liên kết các bể trầm tích khu vực Đông Nam á giữa Việt Nam, Malaysia, Indonesia v.v...

Cùng với việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã hết sức coi trọng phát huy yếu tố nội lực, triển khai tự lực tìm kiếm thăm dò ở một số khu vực; đồng thời từng bước tìm kiếm đối tác cũng như các cơ hội để đầu tư tìm kiếm thăm dò dầu khí ra nước ngoài, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng lâu dài cho đất nước. Tcty đã có 7 Hợp đồng dầu khí ở nước ngoài, và đang tích cực triển khai các dự án đầu tư tìm kiếm thăm dò ở nước ngoài theo nhiều hình thức hợp tác với các nước trong khu vực có tiềm năng dầu khí như hợp tác 3 bên giữa Petrovietnam/Petronas (Malaysia)/ Pertamina (Indonesia), đã tham gia đấu thầu quốc tế các hợp đồng thăm dò –khai thác dầu khí hoặc mua tài sản (cổ phần) trong các hợp đồng dầu khí tại các khu vực/quốc gia có tiềm năng dầu khí trên thế giới. Vừa qua, tại lô hợp đồng tìm kiếm - thăm dò - khai thác ở Algeria, nơi Tổng công ty Dầu khí Việt Nam là người điều hành, đã có phát hiện dầu khí quan trọng.

Song song với công việc khai thác dầu để xuất khẩu, công nghiệp khí cũng đã được tích cực triển khai. Dòng khí đồng hành của mỏ Bạch Hổ sau những năm đầu không được sử dụng, đến giữa năm 1995 đã được dẫn vào bờ với công suất gần 1 triệu m3/ngày, sau đó tăng lên 3 - 4 triệu m3/ngày cung cấp cho các nhà máy điện, đạm Phú Mỹ và cung cấp một khối lượng lớn condensate và khí hoá lỏng LPG cho công nghiệp và dân sinh. Dự án khí Nam Côn Sơn khai thác các mỏ khí Lan Tây - Lan Đỏ hàng năm cung cấp được 5 - 6 tỉ m3 khí thiên nhiên. Các công trình đó đã tạo thành cụm công nghiệp Khí - Điện - Đạm ở miền Đông Nam bộ. Sản phẩm chính là điện và đạm cùng các sản phẩm phụ khác của cụm công nghiệp này, đã góp phần quan trọng cân đối nhu cầu phân bón, nhu cầu nguyên - nhiên liệu cho các ngành kinh tế khác. ở miền Tây, Dự án tổ hợp Khí - Điện - Đạm Cà Mâu đang được thực hiện có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và của cả nước nói chung.

Đối với lĩnh vực chế biến các sản phẩm dầu, Nhà máy Lọc dầu  Dung Quất với tổng vốn đầu tư khoảng 2,5 tỉ USD đang được khẩn trương triển khai theo yêu cầu về tiến độ mà Chính phủ vừa phê duyệt, trên cơ sở Nghị quyết của Quốc hội khóa XI đã thông qua tháng 6 năm 2005, để có thể bắt đầu đi vào vận hành, hoàn thành và cho sản phẩm vào năm 2009. Dự án khu Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn và Đề án Nhà máy lọc dầu phía Nam đang được xem xét tích cực để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về nhiên liệu của đất nước và bổ sung cho công nghiệp hóa dầu những sản phẩm mới từng bước đáp ứng nhu cầu trong nước và tiến tới xuất khẩu.

Như vậy, đến nay bức tranh tổng thể về ngành công nghiệp Dầu khí Việt Nam đã cơ bản hình thành.

Cùng với sự phát triển các khâu của một nền công nghiệp Dầu khí hoàn chỉnh, các hoạt động thương mại – dịch vụ tài chính dầu khí cũng đã hình thành và đóng góp tỷ trọng đáng kể trong doanh thu của Tổng công ty. Hoạt động thương mại đã được triển khai và ngày càng phát triển, đảm bảo xuất nhập khẩu kịp thời dầu thô và các sản phẩm dầu khí, đáp ứng nhu cầu về thiết bị kỹ thuật cao cũng như chuyển giao công nghệ hiện đại, tạo nên cơ sở vật chất hùng hậu của ngành Dầu khí hôm nay. Việc xuất khẩu dầu thô của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam hàng năm đóng góp quan trọng vào thành tích xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế của cả nước. Đặc biệt, Tổng công ty đã tham gia vào thị trường kinh doanh dầu thô và sản phẩm dầu khí thế giới. Hơn nữa, hoạt động thương mại dầu khí còn tạo động lực cho hoạt động thu xếp vốn, vay vốn trên thị trường tài chính quốc tế cho các dự án lớn của Việt Nam cả trong và ngoài ngành Dầu khí. Đội ngũ làm thương mại đã phát triển đều khắp ở tất cả các đơn vị thành viên Tổng công ty, là một lực lượng quan trọng trong dây chuyền sản xuất kinh doanh của Ngành.

Hoạt động tài chính, bảo hiểm đã từng bước được củng cố, nâng cao vị thế của Tổng công ty Dầu khí trong cộng đồng tài chính và bảo hiểm quốc tế, tạo điều kiện đảm bảo khả năng thu hút các nguồn lực cho phát triển. Công tác cân đối, thu xếp tài chính của Tổng công ty đã được thực hiện rất tốt, góp phần đảm bảo thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. TCty đã có nhiều cố gắng trong khai thác, thu xếp và tư vấn tài chính và bảo hiểm cho nhiều dự án của các đơn vị trong và ngoài ngành, đảm bảo các dự án có hiệu quả và được bảo toàn trong những trường hợp rủi ro xảy ra.

Công tác an toàn, bảo vệ môi trường của Tổng công ty rất được quan tâm chú trọng. Đây cũng là một tiêu chí lớn trong hoạt động SXKD của TCty. Công tác giám sát đánh giá việc thực hiện các quy định về công tác đảm bảo an toàn, môi trường luôn được thực hiện nghiêm túc và thường xuyên trong toàn Ngành, đảm bảo tất cả các dự án đều có báo cáo đánh giá rủi ro và tác động môi trường. Chính vì lẽ đó, suốt 30 năm hoạt động, trong Tổng công ty Dầu khí Việt Nam chưa có sự cố lớn nào xảy ra.

Các hoạt động khoa học công nghệ của Tổng công ty Dầu khí  Việt Nam luôn được đặc biệt quan tâm, cả về cơ sở vật chất và nguồn nhân lực. Các cơ sở nghiên cứu KHCN đầu ngành về thăm dò khai thác, chế biến dầu khí, an toàn môi trường… được sớm thành lập và phát triển. Từ đó, tiềm lực khoa học công nghệ của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã không ngừng được nâng cao, tiếp cận dần với trình độ của cộng đồng dầu khí quốc tế. Nhiều vấn đề về khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ khai thác tầng móng của Việt Nam đã được cộng đồng dầu khí quốc tế quan tâm hợp tác, trong đó có kinh nghiệm rút ra từ thực tế thăm dò khai thác dầu khí tầng móng ở các vùng mỏ Việt Nam.

Để triển khai mọi mặt hoạt động của một ngành kinh tế có yêu cầu công nghệ cao, đầu tư lớn, kèm theo rủi ro cao, con người là yếu tố quyết định. ý thức được điều đó, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã sớm đầu tư tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là những cán bộ khoa học có trình độ kỹ thuật cao. Hàng năm, Tổng công ty đã cử hàng trăm cán bộ, công nhân kỹ thuật đi đào tạo, bồi dưỡng ở các nước có nền công nghiệp dầu khí phát triển, mặt khác đã tuyển chọn những sinh viên học giỏi ở các trường đại học trong nước gửi đi đạo tạo đại học và trên đại học tại các cơ sở đào tạo có kinh nghiệm về lĩnh vực Dầu khí ở nước ngoài. Kết quả hàng trăm sinh viên đã tốt nghiệp trở về và hiện đang làm việc có hiệu quả cho các đơn vị. Song song với việc đào tạo chuyên môn ngoại ngữ, Tổng công ty đã tổ chức đào tạo và gửi đi đào tạo chính trị cao cấp, quản lý hành chính cho hầu hết các cán bộ và giám đốc, phó giám đốc các đơn vị, trưởng, phó các ban ở Tổng công ty. Nhờ chủ trương đúng đắn trên, đội ngũ cán bộ Tổng công ty đã có khả năng đáp ứng nhiệm vụ được giao cả trong quản lý và điều hành.Tính đến tháng 6/2005, đội ngũ CBCNV ngành Dầu khí đã lên tới 2,2 vạn người, trong đó số cán bộ có trình độ đại học chiếm 32,63%; trên đại học chiếm 1,81% và hàng nghìn công nhân kỹ thuật có tay nghề cao.

Có thể nói, đội ngũ cán bộ đảng viên, công nhân viên ngành Dầu khí là những người có tri thức, có năng lực và giàu tâm huyết, là nhân tố quyết định cho sự phát triển của ngành công nghiệp dầu khí, nhanh chóng hội nhập với các nước trong khu vực thế giới.

Với truyền thống uống nước nhớ nguồn, những năm qua, ngoài nhiệm vụ SX-KD, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam luôn làm tốt công tác đền ơn đáp nghĩa, ủng hộ đồng bào bị bão lụt, tham gia chương trình xóa đói giảm nghèo, phụng dưỡng suốt đời 81 bà mẹ Việt Nam anh hùng, tặng 94 nhà tình nghĩa, 2038 sổ tiết kiệm...

Ba mươi năm xây dựng và phát triển, từ bàn tay trắng, đến nay Dầu khí đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp to lớn cho nền kinh tế đất nước. Chỉ kể từ năm 2001 đến tháng 6 năm 2005, tổng doanh thu từ ngành Dầu khí là khoảng 330 ngàn tỷ đồng, nộp ngân sách khoảng 200 ngàn tỷ đồng.

Với những thành tích đã đạt được trong SX-KD và những đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam và các đơn vị thành viên đã nhận được nhiều phần thưởng cao quí của Đảng, Nhà nước như: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân Chương Độc lập Hạng Nhất, Huân chương Quân công, một tập thể hai lần được tặng danh hiệu Anh hùng Lao động (Vietsovpetro), hai cá nhân được phong tặng Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới; nhiều đơn vị, cá nhân được tặng Huân chương Độc lập, Huân chương Lao động, Huân chương chiến công và Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Nhiều đơn vị được tặng Cờ thi đua của Chính phủ, 28 cá nhân được tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua toàn Quốc.

Phát huy những thành quả đã đạt được trong 30 năm qua, CBCNV ngành Dầu khí tiếp tục phấn đấu xây dựng ngành Dầu khí Việt Nam phát triển toàn diện, xây dựng Tổng công ty Dầu khí Việt Nam thành một tập đoàn kinh tế mạnh, hoạt động đa năng, tham gia tích cực và bình đẳng vào quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, góp phần vào việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái.
  • Tags: