Người công nhân năm xưa
Chuyện kể rằng, đội tự vệ của Nhà máy Cơ khí Mai Động xưa gồm có 11 thành viên: Hiếu, Dần, Viễn, Thành, Sinh (nam), Tuyên, Quang, Sinh (nữ) Trung, Khuyến, Mai. Họ đều là những công nhân có tay nghề “ cứng cựa” được lựa chọn từ các phân xưởng trong nhà máy: gò, hàn, nguội, đúc.v.v... tuổi đời còn rất trẻ, mới mười tám đôi mươi. Lúc đó hầu hết anh chị em đều không được đào tạo chính qui, bài bản về sử dụng các loại quân dụng mà thường được một đồng chí cán bộ quân sự ở trên điều xuống, hướng dẫn sử dụng ngay tại nhà máy, trong một khóa học cấp tốc chỉ vẻn vẹn vài ngày. Kết thúc khóa học ngắn ngủi này, họ được điều động ra làm nhiệm vụ ngay. Ban đầu chỉ có nhiệm vụ chính là bảo vệ nhà máy. Biên chế ba người một tổ, thay phiên nhau trực từ mười giờ đêm hôm trước đến sáng hôm sau. Theo lời kể lại của chị Đỗ Thị Dần, thời gian đó (khoảng năm 69), đội tự vệ Nhà máy chỉ được trang bị có súng trường CKC, K44, mãi đến sau này, khi chiến tranh ác liệt mới có súng cao xạ 14 ly 5 và một số loại pháo tầm trung. Cũng theo lời kể của chị Dần, thời gian đó còn thiếu thốn khó khăn trăm bề, phụ cấp cho mỗi buổi đi trực đêm như thế chỉ được có 3 hào.
Cũng không thể không nói tới cái “chất công nghiệp” cái chất gang, chất thép dường như đã thấm vào máu của mỗi anh chị em trong đội tự vệ là “Mạnh mẽ quyết đoán, chính xác khẩn trương”. Một trong những tấm gương điển hình lúc bấy giờ là chị Ngô Thị Hiếu xuất thân trong một gia đình “ bình dân” lại là con lớn trong nhà, chị đã không ngần ngại gì đầu quân vào cái ngành mà vốn dĩ xưa nay cánh đàn ông thường độc chiếm. Qua hồi ức của mình, chị Hiếu tâm sự: “Trước đây, mình đã nhiều lần tham gia bắn súng diễn tập ở Quận đội Đống Đa, cũng từng lên tận sân Quần Ngựa dự thi bắn súng thể thao với những bậc đàn anh”. Phải chăng, đó là những niềm say mê đầu đời giúp các chị gắn bó với ngành Công nghiệp. Cũng theo lời chị Hiếu, bây giờ kể sao cho hết những ngày tháng lăn lộn vất vả đó. Khi mới vào Nhà máy, chị được đào tạo qua một lớp học nghề 18 tháng. Cũng có một khoản trợ cấp nho nhỏ: Thợ nguội 24.000đ, thợ đúc: 27.000đ (vì có thêm yếu tố độc hại phấn, chì.v.v...). Khi hoàn thành chương trình học thì chính thức được công nhận là công nhân bậc 1/7, hưởng lương chính 42.000đ, 49.000đ (cộng cả phụ cấp). Đặc biệt, phân xưởng nguội của chị Hiếu còn được gọi là phân xưởng 8/3 do phân xưởng gồm toàn chị em phụ nữ. Thường hồi đó, biên chế mỗi phân xưởng gồm 10 người, có một tổ trưởng phụ trách chung.
Mọi chuyện tưởng sẽ cứ dần dần trôi như thế, nếu không có cuộc “chiến tranh phá hoại miền Bắc” của không lực Hoa Kỳ những năm 1972. Lúc này, tính chiến đấu của đội tự vệ Nhà máy có phần chuyên nghiệp, cấp bách hơn. Không chỉ bó hẹp trong phạm vi bảo vệ Nhà máy, mà đây là nhiệm vụ cao cả, thiêng liêng của Tổ quốc giao cho phải bảo vệ bầu trời của Thủ đô. Khi nhận nhiệm vụ mới này, mỗi người trong đội tự vệ của Nhà máy luôn dốc toàn tâm, toàn lực cho trách nhiệm cao cả này, luôn tự nhủ với mình rằng, có chiến tranh là có mất mát. Do có tính chiến đấu cao nên lúc này, đội tự vệ đã được trang bị súng cao xạ 14 ly 5 cùng một số loại pháo thay cho những khẩu súng trường, trước kia chỉ làm việc vụ “ bắn vỉ ruồi” . Ngoài ra, cũng có sự phối hợp cùng đơn vị bạn để tác chiến tốt hơn như: liên kết cùng Nhà máy Gỗ 42, Nhà máy Cơ khí Lương Yên (chuyển sản xuất các loại máy xay xát).
Giây phút lịch sử
Đúng 21h 45 phút ngày 22/12/1972, tiểu đội súng cao xạ của Nhà máy Cơ khí Mai Động đã bắn rơi chiếc máy bay F111. Thật ra thì đầu tiên, tiểu đội cũng chỉ bắn theo “nhiệm vụ” thôi, nhưng đến sáng hôm sau được trên báo xuống là đơn vị các đồng chí đã bắn trúng chiếc F111 (cháy một bên cánh, rơi tại Hòa Bình). Thời khắc nhận được tin cũng là lúc niềm vui chiến thắng tràn ngập cả tiểu đội. Các đồng chí lãnh đạo cao cấp đã xuống thăm hỏi, chia vui cùng anh chị em. Hồi đó có cả Bác Tôn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Hội phụ nữ Thủ đô, cùng nhiều ban ngành liên quan. Tuy nhiên, kỷ niệm đáng nhớ nhất của chị Ngô Thị Hiếu lại là chiếc khăn nhỏ khổ 20x20cm trên có in dòng chữ đỏ:... có công chống Mỹ, bằng vải phin (của Hội Phụ nữ thành phố) tặng. Còn theo lời chị Đỗ Thị Dần, chị nhớ nhất là 5 thùng lương khô (khổ đại), cả đơn vị ăn lặc lè đến mấy hôm không hết. Thật kể sao cho hết những xúc cảm của một thời vang bóng, tôi thấy trên khoé mắt các chị rưng rưng những giọt lệ ngân dài. Hòa mình vào niềm vui chung của Tổ quốc, của Thủ đô, của nhân dân, nhưng cũng không phải là không có những mất mát cá nhân lớn lao. Trong đội hình đơn vị cũ thì chị Viễn là người có hoàn cảnh éo le hơn cả. Chỉ bốn hôm sau chiến thắng vẻ vang của đơn vị khi đang nhiệm làm trên trận địa, chị biết tin bố đẻ vừa mất qua đợt bom rải thảm phố Khâm Thiên (hôm đó là ngày 26/12/1972). Cũng có nỗi khổ giống chị Viễn, anh Sinh cũng mất đi người anh ruột của mình vào ngày ấy tại làng Tám quận Hai Bà Trưng. Nhưng vượt qua những mất mát đau thương, các anh chị vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Tổ quốc, nhân dân giao phó, để bầu trời Hà Nội luôn “ hòa bình”.
Người công nhân bây giờ
Chiến tranh đã qua đi gần 1/3 thế kỷ, men say chiến thắng, những giọt nước mắt đau thương đã lùi xa vào quá khứ, vào tiềm thức mỗi con người. Chiến tranh kết thúc, người công nhân khi xưa đã “ chắc tay súng” giữ gìn sự bình yên cho bầu trời Tổ quốc thì nay lại “ vững tay búa” hăng say lao động, mỗi năm làm ra hàng ngàn tấn sản phẩm ống nước bằng gang các loại, trực tiếp phục vụ công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Mười một con người ấy giờ đây đã chỉ còn có 10 người, vì năm ngoái, bác Khuyến vừa mất ở cái tuổi 62. Trong số những người ở lại thì có anh Trung vẫn bám trụ với Nhà máy Cơ khí Mai Động, nay đã là Trưởng phòng hành chính của Nhà máy. Anh tâm sự: “Thời đó một anh công nhân công nghiệp đứng máy là oai lắm, tự hào lắm chứ...” . Đảng và Nhà nước cũng không quên công lao của các anh chị, hầu hết mọi người đều được tặng thưởng Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, cùng nhiều bằng khen. Họ cũng được truy lĩnh 960.000đ cho 8 năm “ hoạt động” (1967-1975). Và có một điều ý nghĩa nữa, nhớ mãi, tuy chỉ là một người công nhân công nghiệp, nhưng họ đã góp phần không nhỏ thiết thực của mình trong chiến tranh giữ nước vĩ đại của dân tộc.
