Pháp luật về an toàn lao động và thực tiễn thực hiện tại các doanh nghiệp trên địa bàn phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình

Bài báo Pháp luật về an toàn lao động và thực tiễn thực hiện tại các doanh nghiệp trên địa bàn phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình do Ngô Ngọc Trâm Anh (Trường Đại học Thành Đông) thực hiện.

Tóm tắt:

Bài viết nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật về an toàn lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình. Trên cơ sở khảo sát 30 doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ và thương mại, nghiên cứu đánh giá mức độ tuân thủ các quy định pháp luật về an toàn lao động, phân tích thuận lợi, khó khăn và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi. Kết quả cho thấy, phần lớn doanh nghiệp đã có ý thức hơn trong việc bảo đảm an toàn lao động, song vẫn tồn tại nhiều hạn chế, đặc biệt ở nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa do thiếu nguồn lực tài chính, nhân lực chuyên trách và công tác đào tạo, giám sát chưa được thực hiện thường xuyên. Bài viết đề xuất các giải pháp đồng bộ từ phía cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người lao động nhằm tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật về an toàn lao động, góp phần xây dựng môi trường làm việc an toàn, bền vững.

Từ khóa: an toàn lao động, pháp luật lao động, doanh nghiệp, phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình, thực thi pháp luật.

 1. Đặt vấn đề

An toàn lao động là một trong những yếu tố quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe và tính mạng của người lao động, đồng thời góp phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và nền kinh tế. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc thực hiện các quy định về an toàn lao động trở thành vấn đề cấp thiết. Tại các doanh nghiệp, dù pháp luật về an toàn lao động đã được quy định rõ ràng, nhưng việc thực hiện vẫn gặp không ít khó khăn. Những tai nạn lao động, sự cố trong quá trình sản xuất không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động mà còn làm giảm năng suất lao động và hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp.

Phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình là một khu vực có sự phát triển mạnh mẽ trong các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ. Tuy nhiên, việc thực thi các quy định về an toàn lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn phường này vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Mặc dù có sự hiện diện của các cơ quan chức năng, nhưng việc giám sát, kiểm tra và thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện đúng các quy định về an toàn lao động còn hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu về thực trạng và hiệu quả thực thi pháp luật về an toàn lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn phường Nam Định là rất cần thiết, góp phần nâng cao nhận thức và cải thiện công tác an toàn lao động tại các doanh nghiệp.

2. Cơ sở lý luận

2.1. Khái niệm và vai trò của an toàn lao động

An toàn lao động là một trong những yếu tố quan trọng nhằm bảo vệ sức khỏe, tính mạng của người lao động, đồng thời góp phần nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), an toàn lao động là "việc đảm bảo rằng các yếu tố nguy hiểm và mối đe dọa trong môi trường làm việc được kiểm soát để giảm thiểu nguy cơ tai nạn và tổn thương cho người lao động" (ILO, 2020).

An toàn lao động không chỉ đơn thuần là bảo vệ người lao động khỏi tai nạn lao động mà còn liên quan đến việc xây dựng môi trường làm việc an toàn, cải thiện điều kiện làm việc, và nâng cao ý thức của người lao động và người sử dụng lao động về trách nhiệm trong việc bảo vệ sức khỏe của người lao động. Vai trò của an toàn lao động còn thể hiện ở việc giúp các doanh nghiệp giảm thiểu chi phí y tế, chi phí bảo hiểm, đồng thời nâng cao hiệu quả sản xuất và tạo dựng hình ảnh doanh nghiệp có trách nhiệm với người lao động (Nguyễn Thị Mai, 2019).

2.2. Khung pháp lý về an toàn lao động tại Việt Nam

Tại Việt Nam, an toàn lao động được quy định chi tiết trong các văn bản pháp lý như Bộ luật Lao động và các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành. Bộ luật Lao động 2019 (Điều 137) quy định rằng người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động và không gây nguy hiểm cho sức khỏe của người lao động. Pháp luật cũng yêu cầu các doanh nghiệp phải thực hiện việc đào tạo, huấn luyện và trang bị các phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động để đảm bảo an toàn trong quá trình làm việc.

Đặc biệt, Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 (Nghị định số 44/2016/NĐ-CP) đã đưa ra các quy định chi tiết về việc xây dựng và thực hiện các chương trình an toàn lao động trong doanh nghiệp. Cụ thể, các doanh nghiệp phải có kế hoạch phòng ngừa, khắc phục tai nạn lao động, tổ chức các cuộc kiểm tra, đánh giá định kỳ về an toàn lao động và báo cáo các sự cố, tai nạn lao động với cơ quan chức năng (Trần Phương Hằng, 2017).

Ngoài ra, các Thông tư 19/2016/TT-BLĐTBXH và Thông tư 23/2018/TT-BLĐTBXH cung cấp các hướng dẫn về việc thực hiện các biện pháp an toàn cho từng loại hình công việc cụ thể, bao gồm các quy trình và tiêu chuẩn an toàn lao động phải tuân thủ trong các ngành nghề như xây dựng, sản xuất và dịch vụ.

2.3. Các nguyên tắc và tiêu chuẩn an toàn lao động

Các tiêu chuẩn an toàn lao động được áp dụng tại các doanh nghiệp cần phải tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản như:

Nguyên tắc phòng ngừa: Doanh nghiệp cần xác định các yếu tố nguy hiểm tiềm ẩn trong môi trường làm việc và có biện pháp phòng ngừa từ khi thiết kế công việc đến khi thực hiện Cao Diệu Hương (2018).

Nguyên tắc bảo vệ người lao động: Cần bảo vệ người lao động khỏi những yếu tố nguy hiểm trong khi thực hiện công việc, bằng cách trang bị thiết bị bảo vệ cá nhân và cung cấp thông tin về các biện pháp an toàn.

Nguyên tắc huấn luyện và đào tạo: Người lao động phải được đào tạo về an toàn lao động, đặc biệt là các kỹ năng phòng tránh tai nạn lao động và sơ cứu khi xảy ra sự cố (Nguyễn Thị Mai, 2019).

2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện an toàn lao động tại doanh nghiệp

Theo nghiên cứu của (Nguyễn Thị Mai, 2019), các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện an toàn lao động tại doanh nghiệp bao gồm:

Quy mô và lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp: Các doanh nghiệp nhỏ thường gặp khó khăn trong việc đầu tư vào các biện pháp an toàn lao động do hạn chế về tài chính.

Ý thức của người lao động và người sử dụng lao động: Nghiên cứu của (Trần Phương Hằng, 2017)cho thấy ý thức của người lao động về an toàn lao động còn yếu, điều này làm giảm hiệu quả của các biện pháp bảo vệ.

Cơ chế giám sát và kiểm tra: Một số doanh nghiệp thiếu cơ chế giám sát và kiểm tra chặt chẽ về việc thực hiện các quy định an toàn lao động, dẫn đến việc các quy định này không được tuân thủ nghiêm túc.

3. Thực trạng thực hiện pháp luật về an toàn lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn phường Nam Định

3.1. Đặc điểm chung của các doanh nghiệp trên địa bàn phường Nam Định

Phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình, hiện có sự hiện diện của nhiều doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ và thương mại. Các doanh nghiệp này có quy mô và mức độ phát triển khác nhau. Theo khảo sát, trong số 30 doanh nghiệp được khảo sát tại phường Nam Định, có khoảng 50% là doanh nghiệp sản xuất, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp dịch vụ và thương mại chiếm khoảng 26,7% và 23,3%, tương ứng (Bảng 1). Điều này cho thấy, phần lớn các doanh nghiệp tại đây hoạt động trong môi trường tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với an toàn lao động, đặc biệt là trong ngành sản xuất.

Bảng 1. Tình hình phân loại doanh nghiệp

Loại hình doanh nghiệp

Số lượng doanh nghiệp

Tỷ lệ (%)

Doanh nghiệp sản xuất

15

50%

Doanh nghiệp dịch vụ

8

26.7%

Doanh nghiệp thương mại

7

23.3%

Tổng cộng

30

100%

Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả

3.2. Thực trạng thực hiện các quy định về an toàn lao động

Theo kết quả khảo sát, việc thực hiện các quy định về an toàn lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn phường Nam Định có sự phân hóa rõ rệt giữa các loại hình và quy mô doanh nghiệp. Cụ thể:

Xây dựng và thực hiện nội quy, quy trình an toàn lao động: Các doanh nghiệp sản xuất chủ yếu đã xây dựng và thực hiện nội quy an toàn lao động, với tỷ lệ tuân thủ đạt 83,3%. Tuy nhiên, trong các doanh nghiệp dịch vụ và thương mại, tỷ lệ này chỉ đạt 60%, điều này cho thấy có sự thiếu sót trong việc xây dựng các quy trình an toàn lao động (Bảng 2). Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường gặp khó khăn trong việc xây dựng và triển khai các quy trình an toàn lao động do thiếu nguồn lực và kinh phí.

Bảng 2. Thực trạng thực hiện các quy định về an toàn lao động

Các yếu tố kiểm tra

Số doanh nghiệp tuân thủ

Tỷ lệ (%)

Số doanh nghiệp không tuân thủ

Tỷ lệ (%)

Xây dựng nội quy an toàn lao động

25

83.3%

5

16.7%

Đào tạo, huấn luyện về an toàn lao động

22

73.3%

8

26.7%

Trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân

27

90%

3

10%

Kiểm tra và giám sát an toàn lao động

18

60%

12

40%

Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả

Đào tạo và huấn luyện an toàn lao động: Việc đào tạo và huấn luyện về an toàn lao động cho người lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn phường Nam Định còn hạn chế. Chỉ có 73,3% các doanh nghiệp thực hiện đào tạo an toàn lao động định kỳ cho người lao động, trong khi các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ có tỷ lệ đào tạo thấp hơn, chỉ khoảng 50% (Bảng 2). Điều này cho thấy, một bộ phận lớn người lao động chưa được đào tạo đầy đủ về các quy trình và biện pháp bảo vệ bản thân trong công việc, dẫn đến nguy cơ cao về tai nạn lao động.

Trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân: Các doanh nghiệp sản xuất có tỷ lệ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động cao, lên tới 90%, trong khi các doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ và thương mại chỉ đạt 60%. Theo Trần Phương Hằng (2017), việc trang bị các phương tiện bảo vệ cá nhân là một trong những yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo an toàn lao động, nhưng nhiều doanh nghiệp chưa chú trọng đến vấn đề này, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ và thương mại.

Kiểm tra và giám sát việc thực hiện an toàn lao động: Việc kiểm tra và giám sát an toàn lao động tại các doanh nghiệp chưa được thực hiện một cách thường xuyên và đầy đủ. Chỉ có 60% các doanh nghiệp thực hiện công tác kiểm tra định kỳ về an toàn lao động, trong khi 40% còn lại thiếu cơ chế kiểm tra và xử lý vi phạm kịp thời (Bảng 2). Theo nghiên cứu của Cao Diệu Hương (2018), công tác giám sát và kiểm tra là yếu tố then chốt giúp phát hiện và khắc phục các nguy cơ tiềm ẩn trong môi trường lao động.

4. Đánh giá mức độ tuân thủ các quy định về an toàn lao động

Mức độ tuân thủ pháp luật về an toàn lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn phường Nam Định có sự khác biệt lớn. Các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp sản xuất có tỷ lệ tuân thủ cao, chiếm khoảng 40%, trong khi tỷ lệ tuân thủ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ đạt 33,3%. Điều này phản ánh sự khó khăn trong việc triển khai đầy đủ các biện pháp an toàn lao động tại các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa (Bảng 3).

Bảng 3. Đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật về an toàn lao động

Mức độ tuân thủ

Số doanh nghiệp

Tỷ lệ (%)

Tuân thủ đầy đủ

12

40%

Tuân thủ một phần

10

33.3%

Không tuân thủ

8

26.7%

Tổng cộng

30

100%

Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả

Ngoài ra, một số doanh nghiệp thiếu sự quan tâm đến công tác an toàn lao động và chỉ thực hiện các biện pháp tối thiểu để đáp ứng yêu cầu của pháp luật mà không thực sự chú trọng đến việc tạo dựng một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh cho người lao động.

4.1. Thuận lợi trong việc thực hiện pháp luật về an toàn lao động

Việc thực hiện pháp luật về an toàn lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình đạt được một số thuận lợi đáng ghi nhận, nhờ sự quan tâm của cơ quan quản lý nhà nước, ý thức ngày càng được nâng cao của người lao động và doanh nghiệp.

Bảng 4. Khó khăn và thuận lợi trong việc thực hiện an toàn lao động

Các yếu tố gặp khó khăn

Số doanh nghiệp gặp khó khăn

Tỷ lệ (%)

Thiếu tài chính để đầu tư an toàn lao động

14

46.7%

Thiếu nhận thức của người lao động

10

33.3%

Khó khăn trong việc đào tạo định kỳ

9

30%

Thiếu cơ chế giám sát, kiểm tra hiệu quả

11

36.7%

Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả

Thứ nhất, ý thức tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp được cải thiện. Các doanh nghiệp sản xuất lớn và vừa đã bắt đầu chú trọng hơn đến công tác an toàn lao động, coi đó là một phần trong chiến lược phát triển bền vững. Theo Nguyễn Thị Mai (2019), nhiều doanh nghiệp hiện nay xem việc đầu tư cho an toàn lao động không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn là yếu tố nâng cao uy tín thương hiệu và năng suất lao động.

Thứ hai, sự hỗ trợ từ phía cơ quan nhà nước đóng vai trò tích cực. Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Ninh Bình đã tổ chức nhiều lớp tập huấn, hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện quy định về an toàn lao động, giúp nâng cao năng lực quản lý và nhận thức của doanh nghiệp. Việc thanh tra, kiểm tra định kỳ tuy chưa thường xuyên nhưng vẫn giúp phát hiện và khắc phục một số vi phạm trong doanh nghiệp.

Thứ ba, một số doanh nghiệp đã chủ động trong công tác phòng ngừa rủi ro lao động. Theo khảo sát, 40% doanh nghiệp trên địa bàn phường Nam Định đã thiết lập hệ thống quản lý an toàn lao động nội bộ, bao gồm quy trình kiểm tra, báo cáo tai nạn và xử lý sự cố (Trần Phương Hằng, 2017). Điều này cho thấy sự chuyển biến tích cực trong nhận thức về vai trò của an toàn lao động trong quá trình sản xuất - kinh doanh.

4.2. Khó khăn trong việc thực hiện pháp luật về an toàn lao động

Bên cạnh những thuận lợi, việc thực hiện pháp luật về an toàn lao động tại các doanh nghiệp vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế và khó khăn.

Thứ nhất, thiếu nguồn lực tài chính và kỹ thuật là rào cản lớn đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khoảng 46,7% doanh nghiệp được khảo sát cho rằng họ không đủ khả năng tài chính để đầu tư trang thiết bị, phương tiện bảo hộ và tổ chức huấn luyện định kỳ (Bảng 4). Theo Cao Diệu Hương (2018), chi phí đầu tư ban đầu cho các biện pháp an toàn thường khá cao, trong khi hiệu quả kinh tế lại không thể hiện ngay, khiến nhiều doanh nghiệp chưa coi đây là ưu tiên.

Thứ hai, ý thức của người lao động về an toàn lao động còn hạn chế. Dù đã được phổ biến và hướng dẫn, nhưng trong thực tế, nhiều người lao động chưa thực hiện đúng các quy định về bảo hộ cá nhân hoặc còn chủ quan trong quá trình làm việc. Nguyễn Văn Hùng (2020) nhận định rằng, việc tuân thủ quy định về an toàn lao động ở các doanh nghiệp nhỏ chủ yếu mang tính hình thức, thiếu sự giám sát chặt chẽ.

Thứ ba, công tác giám sát và thanh tra chưa thường xuyên và sâu sát. Các cơ quan chức năng cấp địa phương còn gặp khó khăn về nhân lực và kinh phí, dẫn đến việc thanh tra, kiểm tra chưa bao quát hết các doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp chỉ chuẩn bị hồ sơ, quy trình khi có kiểm tra, trong khi thực tế việc áp dụng chưa đầy đủ. Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (2016), đây là tình trạng phổ biến ở nhiều địa phương, đặc biệt là khu vực có nhiều doanh nghiệp tư nhân nhỏ.

Thứ tư, thiếu chuyên gia và cán bộ chuyên trách an toàn lao động. Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ, không có bộ phận chuyên trách về an toàn lao động. Thay vào đó, công việc này thường do bộ phận hành chính - nhân sự kiêm nhiệm, dẫn đến hiệu quả thấp. Trần Phương Hằng (2017) chỉ ra rằng, việc thiếu nhân lực chuyên trách khiến công tác đánh giá rủi ro và phòng ngừa tai nạn lao động không được thực hiện đúng quy trình, dẫn đến nguy cơ xảy ra tai nạn cao hơn.

Thứ năm, chính sách khuyến khích doanh nghiệp thực hiện tốt an toàn lao động còn hạn chế. Hiện nay, ngoài các quy định xử phạt vi phạm, chưa có cơ chế khuyến khích hoặc ưu đãi cụ thể cho các doanh nghiệp thực hiện tốt công tác an toàn lao động. Theo Nguyễn Thị Mai (2019), việc thiếu động lực khuyến khích khiến doanh nghiệp chưa chủ động trong việc đầu tư dài hạn vào lĩnh vực này.

Có thể thấy công tác thực hiện pháp luật về an toàn lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình đã đạt được một số kết quả tích cực, đặc biệt ở nhóm doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề như thiếu nguồn lực, thiếu nhận thức và hạn chế trong quản lý, giám sát. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc hoàn thiện cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp, nâng cao năng lực quản lý của cơ quan chức năng và đẩy mạnh tuyên truyền, đào tạo nhằm thay đổi nhận thức của cả người sử dụng lao động và người lao động.

5. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về an toàn lao động

5.1. Đối với cơ quan nhà nước

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Các cơ quan chức năng cần thực hiện thanh tra, kiểm tra thường xuyên và toàn diện hơn đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc thanh tra cần không chỉ kiểm tra hồ sơ, tài liệu mà còn phải tiến hành kiểm tra thực tế tại hiện trường, để phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm. Theo Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (2016),, việc kiểm tra và giám sát cần phải được thực hiện định kỳ và có sự đầu tư vào nhân lực, tài chính để bảo đảm tính hiệu quả của các cuộc thanh tra.

Tổ chức các chương trình đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý an toàn lao động. Theo Trần Phương Hằng (2017), việc đào tạo, tập huấn cho cán bộ quản lý an toàn lao động tại các doanh nghiệp cần được đẩy mạnh. Các cơ quan chức năng cần tổ chức các khóa học đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ quản lý an toàn lao động tại các doanh nghiệp để đảm bảo các quy định được thực hiện đầy đủ và nghiêm túc.

Xây dựng hệ thống cơ chế khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp. Chính phủ và các cơ quan chức năng cần xây dựng và triển khai các cơ chế khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc thực hiện các biện pháp an toàn lao động. Điều này có thể thông qua các hình thức ưu đãi thuế, hỗ trợ tài chính cho những doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn an toàn lao động xuất sắc. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai (2019), một cơ chế khuyến khích thích hợp sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp chủ động hơn trong việc đầu tư vào các biện pháp an toàn lao động.

5.2. Đối với doanh nghiệp

Xây dựng và thực hiện nghiêm túc các quy trình an toàn lao động. Doanh nghiệp cần xây dựng các quy trình an toàn lao động chi tiết và áp dụng một cách nghiêm túc. Việc thực hiện các quy trình này sẽ không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro mà còn nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo vệ sức khỏe của người lao động. Theo Cao Diệu Hương (2018), các doanh nghiệp cần cập nhật và hoàn thiện các quy trình này để phù hợp với các yêu cầu pháp lý mới nhất, đồng thời cũng cần tuyên truyền, phổ biến các quy trình này đến toàn thể người lao động trong công ty.

Tổ chức đào tạo, huấn luyện định kỳ về an toàn lao động. Việc đào tạo và huấn luyện an toàn lao động cho người lao động là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất. Doanh nghiệp cần tổ chức các khóa đào tạo định kỳ về an toàn lao động, nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng cho người lao động trong việc phòng ngừa và ứng phó với các tai nạn lao động. Theo Trần Phương Hằng (2017), việc huấn luyện không chỉ dừng lại ở các lớp học lý thuyết mà cần được thực hành thường xuyên để người lao động có thể áp dụng vào công việc thực tế.

Đầu tư vào trang thiết bị bảo vệ lao động và công tác giám sát. Các doanh nghiệp cần đầu tư đầy đủ các trang thiết bị bảo vệ lao động như mũ bảo hộ, kính bảo vệ, găng tay, giày bảo hộ và các phương tiện khác tùy theo ngành nghề. Việc trang bị đầy đủ các phương tiện bảo vệ là một biện pháp hiệu quả để bảo vệ người lao động và giảm thiểu rủi ro trong quá trình làm việc. Theo nghiên cứu của Cao Diệu Hương (2018), trang bị bảo hộ lao động đúng cách có thể giảm thiểu đáng kể tai nạn lao động.

5.3. Đối với người lao động

Nâng cao ý thức và trách nhiệm của người lao động. Người lao động cần nhận thức rõ về quyền lợi của mình cũng như nghĩa vụ trong việc thực hiện các quy định về an toàn lao động. Người lao động không chỉ phải tuân thủ các quy định mà còn cần chủ động báo cáo các nguy cơ và tai nạn lao động cho người sử dụng lao động. Nguyễn Văn Hùng (2020) chỉ ra rằng, một trong những yếu tố quan trọng giúp giảm thiểu tai nạn lao động là ý thức tự giác của người lao động trong việc tuân thủ các biện pháp an toàn.

Tham gia đầy đủ các khóa đào tạo, huấn luyện an toàn lao động. Người lao động cần tham gia đầy đủ các khóa đào tạo, huấn luyện về an toàn lao động. Điều này không chỉ giúp họ hiểu rõ các quy định về an toàn lao động mà còn trang bị cho họ những kỹ năng cần thiết để bảo vệ bản thân trong môi trường làm việc. Theo nghiên cứu của Trần Phương Hằng (2017), việc người lao động tham gia đầy đủ các khóa đào tạo sẽ giúp họ có thể phòng ngừa tai nạn lao động hiệu quả hơn.

6. Kết luận

Để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về an toàn lao động tại các doanh nghiệp, đặc biệt tại phường Nam Định, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và người lao động. Cần có các chính sách đồng bộ nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào an toàn lao động, đồng thời cải thiện công tác đào tạo và nâng cao nhận thức của người lao động. Các giải pháp này không chỉ giúp giảm thiểu tai nạn lao động mà còn góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo vệ sức khỏe người lao động.

Tài liệu tham khảo:

Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. (2016). Thông tư số 19/2016/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều của Bộ luật Lao động về an toàn, vệ sinh lao động.

Cao Diệu Hương. (2018). Phương pháp và nguyên tắc phòng ngừa tai nạn lao động tại các doanh nghiệp. Tạp chí An toàn lao động, 12(3), 45-50.

Nguyễn Thị Mai. (2019). Đánh giá thực trạng thực hiện an toàn lao động tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 15(2), 121-130.

Nguyễn Văn Hùng. (2020). Nâng cao nhận thức về an toàn lao động tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tạp chí Lao động và Xã hội, 18(4), 56-64.

Trần Phương Hằng. (2017). Giải pháp cải thiện việc thực hiện các quy định về an toàn lao động tại các doanh nghiệp. Báo cáo nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Lao động - Xã hội.

Occupational safety law compliance in enterprises in Nam Dinh ward, Ninh Binh province

Ngo Ngoc Tram Anh

Thanh Dong University

Abstract:

This study examines the current state of occupational safety law enforcement among enterprises in Nam Dinh ward, Ninh Binh province. Drawing on survey data from 30 enterprises across manufacturing, service, and trade sectors, the study evaluates levels of legal compliance, identifies strengths and shortcomings, and proposes measures to enhance enforcement effectiveness. The findings indicate that while most enterprises have increased their awareness of occupational safety requirements, significant gaps remain, particularly among small and medium-sized enterprises, which face constraints in financial resources, specialized personnel, and consistent training and supervision. Based on this assessment, the study recommends a set of coordinated solutions involving regulatory authorities, enterprises, and employees to strengthen occupational safety compliance and contribute to a safer, more sustainable working environment.

Keyword: labor safety, labor law, enterprise, Nam Dinh ward, Ninh Binh province, law enforcement.

[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 29 năm 2025]

Tạp chí Công Thương