Để tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) trong nước phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có, trong những năm vừa qua, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách chú trọng tới sự phát triển của lĩnh vực quan trọng này.
Trước tiên phải kể tới là Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ra ngày 24/02/2011 về việc ban hành Chính sách khuyến khích phát triển một số ngành CNHT. Tiếp theo là Quyết định số 1483/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ra ngày 26/8/2011 về việc ban hành Danh mục sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển. Đồng thời, gần đây, trong nước cũng đã có rất nhiều hội thảo nhằm đề xuất giải pháp chính sách phát triển CNHT. Tuy nhiên, thực tế phát triển CNHT lại không được như mong đợi. Để tạo điều kiện và thúc đẩy một số ngành CNHT phát triển phù hợp với thông lệ quốc tế khi Việt Nam đã là thành viên chính thức của WTO thì Nhà nước cần phát triển mạnh, kịp thời một số ngành kinh tế quan trọng như cơ sở hạ tầng (đường xá, cầu cống, bến cảng cả giao thông đường bộ, đường thủy, hàng hải và hàng không); phát triển nguồn điện; hệ thống cung cấp nước sạch và hệ thống xử lý nước thải...
Trong hoàn cảnh nhu cầu cơ sở hạ tầng tại Việt Nam ngày càng tăng nhanh mà ngân sách của Chính phủ và các nhà tài trợ lại có giới hạn, hợp tác công tư (PPP) có khả năng như một đòn bẩy đối với các nguồn lực tài chính và chuyên môn từ khu vực tư nhân nhằm cải thiện chất lượng và mở rộng độ bao phủ của các dịch vụ cơ sở hạ tầng tại Việt Nam hiện nay.
Mô hình PPP là gì?
PPP (Public - Private Partner) là hợp tác công - tư mà theo đó nhà nước cho phép tư nhân cùng tham gia đầu tư vào các dịch vụ hoặc công trình công cộng của nhà nước.
Các hình thức PPP
Hiện nay trên thế giới thường sử dụng 5 mô hình PPP phổ biến như: 1) Nhượng quyền khai thác; 2) Thiết kế - xây dựng - tài trợ - vận hành (DBFO); 3) Xây dựng - vận hành - chuyển giao (BOT); 4) Xây dựng - chuyển giao - vận hành (BTO); 5) Xây dựng - sở hữu - vận hành (BOO). Còn ở Việt Nam chủ yếu áp dụng 2 mô hình BOT và BOO.
Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, trong giai đoạn 1994 - 2009 ở Việt Nam đã có 32 dự án được thực hiện theo mô hình PPP với tổng mức vốn cam kết khoảng 6,7 tỉ USD. Hai lĩnh vực chiếm tỷ phần lớn nhất là điện và viễn thông. Ngoài ra, có thể kể đến nhiều dự án hợp tác PPP khác đã và đang được triển khai từ thập niên 1990 đến nay như: BOT cầu Cỏ May, BOT cầu Phú Mỹ, điện Phú Mỹ, và rất nhiều nhà máy điện nhỏ và vừa khác đang được thực hiện theo phương thức BOO. Về mô hình BOT, tổng cộng có 26 dự án với tổng mức đầu tư là 128 ngàn tỷ đồng.
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) đã và đang khẩn trương phối hợp với các bộ, ngành, tổ chức quốc tế xây dựng Nghị định về đầu tư theo hình thức PPP trên cơ sở hợp nhất Nghị định 108/2009/NĐ-CP và Quyết định 71/2010/QĐ-TTg về đầu tư theo hình thức Hợp đồng và ban hành Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức PPP. Song song với việc này, Bộ KH&ĐT cũng phối hợp với các bộ, ngành, địa phương để chuẩn bị các dự án PPP trình Thủ tướng Chính phủ đưa vào danh mục và dự kiến ngân sách đối ứng cho các dự án PPP năm 2014, 2015 và giai đoạn 2016 - 2020. Bộ sẽ nghiên cứu trình Chính phủ phương án bố trí khoảng 20.000 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách tập trung ở Trung ương để dành riêng cho việc tham gia vào vốn đối ứng trong các dự án PPP được chọn.
Tại dự thảo của Nghị định, do Bộ KH&ĐT trình Thủ tướng Chính phủ có 9 lĩnh vực đầu tư theo hình thức PPP được ưu tiên, đó là:
1. Đường bộ, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ, bến xe, hạ tầng giao thông đô thị;
2. Đường sắt, cầu đường sắt, hầm đường sắt, nhà ga đường sắt;
3. Cảng hàng không, cảng biển, cảng sông, cảng dịch vụ hậu cần, cảng cạn;
4. Hệ thống cung cấp nước sạch, hệ thống thoát nước;
5. Nhà máy điện, đường dây tải điện, cơ sở sản xuất năng lượng;
6. Các công trình kết cấu hạ tầng y tế, giáo dục, đào tạo, dạy nghề, văn hóa thể thao và trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước;
7. Hạ tầng công nghệ thông tin, truyền thông, viễn thông, hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, hạ tầng sản xuất nông nghiệp, trung tâm thương mại, chợ, kho tàng và phương tiện bảo quản hàng hóa;
8. Nhà ở xã hội, công viên, khu vui chơi, giải trí công cộng, nghĩa trang;
9. Các công trình kết cấu hạ tầng khác do Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định trong từng trường hợp cụ thể.
Chỉ cần các dự án thuộc lĩnh vực từ 1 đến 5 và 7 được triển khai, thì CNHT nói riêng và các ngành kinh tế khác nói chung ở nước ta sẽ có nhiều triển vọng để phát triển. Bởi lẽ: Thứ nhất, các đơn vị này sẽ tiết kiệm được chi phí vận chuyển, chi phí bốc dỡ hàng (cả nhập và xuất) do giao thông thuận tiện và các cảng được bố trí hợp lý khi lĩnh vực đầu tư 1, 2, 3 được triển khai. Thứ hai, tiết kiệm được chi phí sản xuất do được hưởng lợi từ thành quả của các công trình xử lý nước thải được triển khai từ lĩnh vực đầu tư thứ 4. Và tận hưởng được cơ sở hạ tầng thương mại được triển khai khi lĩnh vực đầu tư thứ 7 được thực hiện. Thứ ba, hạn chế tới mức thấp nhất thời gian ngừng sản xuất do thiếu điện năng, do lĩnh vực đầu tư thứ 5 được triển khai. Và đây cũng là cơ sở tiên quyết để các DN đảm bảo sản xuất thực hiện đúng tiến độ hợp đồng đã ký với đối tác khách hàng.
Hoạt động sản xuất - kinh doanh trong điều kiện hội nhập toàn cầu cạnh tranh khốc liệt, thì việc giảm chi phí sản xuất, tăng chi phí cơ hội, tăng uy tín thương hiệu là điều kiện tiên quyết để DN thắng thế trên thương trường. Và đây cũng chính là sự kỳ vọng để các ngành CNHT Việt Nam phát triển trong tương lai gần.
