Phát triển gạch không nung cần sự phối hợp của các bộ, ngành, địa phương

Ngày 29/5, tại Hà Nội, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Xây dựng và Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc tại Việt Nam (UNDP) tổ chức hội thảo Khởi động Dự án “Tăng cường sản xuất và sử dụng

PV: Xin Thứ trưởng cho biết đánh giá tổng quát về GKN ở Việt Nam và lý do tại sao phải tăng cường sản xuất và sử dụng GKN ở Việt Nam thời điểm này đến năm 2020?

Thứ trưởng Trần Văn Tùng: Biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của chúng ta do nhiệt độ toàn cầu tăng mạnh, mà nguyên nhân là sự tăng phát thải khí nhà kính. Chiến lược bảo vệ môi trường của Việt Nam cũng đề ra mục tiêu là giảm phát thải khí nhà kính. Chính phủ cũng đã ra Quyết định về việc sử dụng GKN ở Việt Nam (Quyết định số 567/QĐ-TTg ngày 28/4/2010 về việc phê duyệt chương trình phát triển vật liệu không nung đến năm 2020 - PV). Đây có thể coi là Quyết định hết sức quan trọng đối với việc phát triển một loại vật liệu thân thiện môi trường, phục vụ các công trình kiến trúc xanh. Với một đất nước đang phát triển như Việt Nam, vẫn đang tồn tại nhiều lò gạch thủ công, sử dụng đất màu canh tác làm nguyên liệu, sử dụng nhiên liệu than làm chất đốt, thì việc kiểm soát phát thải khí nhà kính là vô cùng khó.

Chúng ta cũng đã có nhiều giải pháp cải tiến nhằm giảm bớt ô nhiễm trong các lò gạch thủ công. Một số tỉnh cũng đã bước đầu loại bỏ được lò gạch này, tuy nhiên chưa thực sự đáp ứng được mong muốn của Chính phủ.

PV: Có thể nói không phải bây giờ người ta mới nhắc đến GKN, nhưng dường như thời gian vừa qua, sản phẩm này chưa được quan tâm đúng mức?

Thứ trưởng Trần Văn Tùng: Chúng ta mới bắt đầu sản xuất và sử dụng GKN. Ngay cả trong Hội thảo này, nhiều doanh nghiệp cũng rất trăn trở về việc làm thế nào để thực sự thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng loại sản phẩm này. Với các ưu điểm của GKN như ít phát thải khí nhà kính; sử dụng ít nhiên liệu; sử dụng phế thải làm nguyên liệu; nhẹ, có khả năng cách âm, cách nhiệt; đẩy nhanh tiến độ thi công, tạo điều kiện thúc đẩy công nghiệp hóa ngành xây dựng… sản xuất và sử dụng GKN đang là một xu hướng tất yếu của ngành xây dựng trong tương lai. Tuy nhiên, để có thể sử dụng được GKN thay thế gạch nung truyền thống còn phụ thuộc vào các chính sách, tiêu chuẩn, sự chấp nhận của doanh nghiệp, thậm chí cả về tâm lý của người sử dụng. Trong các nội dung hợp phần của dự án có nội dung về mặt chính sách, có đào tạo, xây dựng tiêu chuẩn và thậm chí có cả nội dung cải tạo, thay đổi tư duy, suy nghĩ của người sử dụng để họ yên tâm sử dụng GKN trong các công trình xây dựng.

Trên thế giới đã dùng GKN cho các công trình xây dựng từ rất lâu. Nhưng ở Việt Nam, để đưa một loại vật liệu mới thay thế một loại vật liệu cũ thì phải có tiêu chuẩn, qui định và thậm chí phải thử nghiệm nó trong thực tiễn để đảm bảo độ bền, chất lượng công trình. Hiện nay không phải là không có nhà sản xuất GKN, nhưng sản phẩm làm ra không bán được vì không có qui định, không được phép của cơ quan quản lý, thậm chí có nơi do hiểu biết không đầy đủ còn cấm sử dụng GKN trong các công trình xây dựng của tỉnh. Với dự án này, chúng tôi hy vọng giải quyết được tất cả vướng mắc về cơ chế chính sách, mục tiêu, giải tỏa tâm lý cho người sử dụng. Lúc đó hy vọng sẽ phát triển được thị trường GKN.

PV: Tức là để phát triển thị trường GKN, chúng ta sẽ phải vượt qua rất nhiều rào cản?

Thứ trưởng Trần Văn Tùng: Về chất lượng của GKN chúng tôi không ngại lắm vì các nước đã làm từ vài chục năm và chúng ta sẽ nhận chuyển giao công nghệ. Giám đốc UNDP cũng vừa báo cáo trong Hội thảo, tại Việt Nam vừa hoàn thành tòa nhà Liên hiệp quốc thân thiện môi trường, giảm 20% nhiên liệu nhờ áp dụng tất cả các công nghệ mới về tiết kiệm năng lượng bảo vệ môi trường, trong đó có sử dụng vật liệu không nung giảm hấp thụ năng lượng. Đây là công trình kiến trúc xanh đầu tiên tại Việt Nam. Nhưng như tôi đã nói ở trên, thách thức lớn nhất chính là thói quen tiêu dùng của chúng ta, là tâm lý của cả người sản xuất, người sử dụng và của các cơ quan quản lý để chấp nhận sản phẩm này, chấp nhận sử dụng vật liệu mới trong quá trình xây dựng các công trình. Chính vì thế, chúng tôi sẽ đưa ra những tiêu chuẩn hết sức nghiêm ngặt nhằm đảm bảo tiêu chuẩn của các công trình. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng sẽ chú ý tới công tác truyền thông để tuyên truyền đến các đối tượng thấy rõ ưu điểm của loại vật liệu thân thiện môi trường, sản xuất và sử dụng GKN là góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững và giúp chúng ta tiết kiệm nguồn nguyên liệu hóa thạch như than để nung, đất màu để làm gạch theo phương pháp thủ công truyền thống.

Ngoài thói quen tiêu dùng, thì Việt Nam do điều kiện kinh tế không cao, giá sản phẩm cũng là một rào cản lớn để người tiêu dùng tiến tới sử dụng sản phẩm đó. Như trình bày của một số nhà khoa học tại Hội thảo này cũng có những ý kiến trong giai đoạn đầu cần nguồn lực để hỗ trợ doanh nghiệp khi họ chuyển sang tiếp nhận sản xuất một loại sản phẩm mới mà chưa biết thị trường tiêu thụ của nó đến đâu. Khi đó, chúng tôi có nguồn hỗ trợ thương mại lớn từ vốn vay của Vietinbank, hay các Quỹ đổi mới khoa học công nghệ quốc gia, Quỹ Bảo vệ môi trường toàn cầu (GEF), Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam… nhằm hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất ra được sản phẩm với giá thành có thể chấp nhận được trong giai đoạn đầu tiên khi mặt hàng này bắt đầu tiếp cận thị trường.

PV: Trong dự án có hợp phần “Xây dựng năng lực kỹ thuật để ứng dụng, vận hành công nghệ GKN và sử dụng sản phẩm GKN”, Thưa Thứ trưởng đây có phải cách để chúng ta chuẩn bị nguồn nhân lực cho thị trường tiềm năng này?

Thứ trưởng Trần Văn Tùng: Với mỗi chương trình, dự án, nguồn nhân lực đều đóng vai trò rất quan trọng. Dự án này đã xây dựng rất đầy đủ và toàn diện để phát triển nguồn nhân lực cho tất cả từ người xây dựng chính sách đến vận hành, quản lý, xây dựng và cả năng lực cho đội ngũ làm kỹ thuật trực tiếp sản xuất ra sản phẩm GKN. Ở đây chúng tôi đánh giá cao việc trang bị kiến thức cho người xây dựng, bởi GKN đòi hỏi một tiêu chuẩn xây dựng hoàn toàn khác gạch thông thường. Nếu ta áp công thức xây dựng gạch thông thường vào GKN thì sẽ dẫn đến hiện tượng nứt, vỡ như một số nơi thời gian vừa qua và sẽ ảnh hưởng đến cái nhìn của xã hội về loại sản phẩm này. Do đó, việc đào tạo sẽ được thực hiện cho tất cả các đối tượng liên quan, theo từng nội dung cụ thể cho từng đối tượng.

PV: Còn về chính sách hỗ trợ cụ thể thì như thế nào, thưa Thứ trưởng?

Thứ trưởng Trần Văn Tùng: Về chính sách, chúng tôi kỳ vọng trong hợp phần đầu tiên của dự án này sẽ xây dựng được một số chính sách, trong đó có những chính sách về hỗ trợ tài chính, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng… nhằm giúp việc sản xuất sản phẩm này đạt được giá thành hợp lý, hoặc những doanh nghiệp đầu tư sản xuất GKN sẽ có điều kiện phát triển. Bên cạnh đó cũng sẽ xây dựng những chính sách về nâng cao năng lực cho cơ quan quản lý, đào tạo, tập huấn cho các đối tượng liên quan để xây dựng được các cơ chế, chính sách quan trọng cho phát triển GKN. Có chính sách hỗ trợ đào tạo toàn bộ đội ngũ người vận hành trực tiếp sản xuất trong các doanh nghiệp tham gia dự án để họ tiếp cận và vận hành được công nghệ mới.

PV: Đây mới chỉ là Hội thảo khởi động Dự án. Theo Thứ trưởng, để đẩy mạnh phát triển vật liệu thân thiện môi trường, chúng ta cần thêm điều gì?

Thứ trưởng Trần Văn Tùng: Chủ trương chúng ta đã có. Lợi ích ai cũng nhìn thấy. Các doanh nghiệp cũng đã sẵn sàng tham gia vào thị trường tiềm năng này. Tuy nhiên, để dự án thành công, rất cần sự phối hợp giữa các bộ, ngành, mà đặc biệt là các địa phương, các đơn vị có liên quan để chúng ta có thể đi đúng con đường, cùng nhau giải quyết các vướng mắc trong quá trình thực hiện. Có như thế mới giúp cho quá trình phát triển GKN mạnh mẽ và thực hiện được các mục tiêu của dự án, cũng như hướng tới mục tiêu cao hơn là giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

PV: Trân trọng cảm ơn Thứ trưởng!