Phát triển khu công nghiệp theo mô hình khu liên hợp:

Khu công nghiệp (KCN) là h×nh thøc thực hiện CNH, HĐH giải quyết nhiều mối quan hệ kinh tế quan trọng: Thu hút tập trung các nguồn vốn đầu tư; ứng dụng chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ, chuyển d

Sau 15 năm (1990 – 2005) thực hiện chủ trương xây dựng và phát triển các KCN, chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trong bước đầu về tăng trưởng, giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Theo số liệu của Vụ Quản lý Khu Công nghiệp, Khu Chế xuất (KCX) của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 12/2005 cả nước có 130 KCN, KCX đã được thành lập với tổng diện tịch là 26.517 ha, tổng vốn đăng ký đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật là 1,1 tỷ USD và 31,5 nghìn tỷ đồng. Bằng các chính sách ưu đãi và hệ thống cơ sở hạ tầng được cải thiện và nâng cấp đã thu hút 4.500 dự án đầu tư đang hoạt động trong cả nước. Trong đó có 2.202 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với vốn đăng ký là 17,5 tỷ USD và 2.314 dự án trong nước, với tổng vốn đăng ký là 100 nghìn tỷ đồng (ngoài phần vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN). Các KCN trong cả nước đã tạo việc làm cho trên 700 nghìn lao động trực tiếp và khoảng hơn 1 triệu lao động gián tiếp. Những thành tựu đạt được về phát triển KCN trong thời gian qua đã tạo tiền đề cho giai đoạn tiếp theo để hoàn thiện và phát triển các KCN trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH ở nước ta.

Song quá trình nghiên cứu, xem xét thực tế các KCN, cùng với những kết quả đạt được thì thấy rằng trong quá trình phát triển các KCN đã nảy sinh một số vấn đề như : Làm suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường bị ô nhiễm, bộ phận dân cư rơi vào tình trạng không có việc làm do đất đai canh tác bị thu hồi, một số mâu thuẫn và tiêu cực trong xã hội nảy sinh. Nhưng cái tồn tại hạn chế sự phát triển của KCN chính là hiệu quả kinh tế – xã hội không tương xứng với những điều kiện khả năng vật chất mà chúng ta đã dành cho nó. Đã có những cách giải thích khác nhau về nguyên nhân của sự yếu kém trên như là: Do cơ chế chính sách, do năng lực quản lý điều hành tức là do các nguyên nhân tác động từ bên ngoài. Chúng tôi cho rằng, nguyên nhân khách quan ở ngay trong quá trình vận động và phát triển các KCN, CNH, HĐH là quá trình và KCN là hình thức thực hiện CNH, HĐH. Vì vậy, sự hình thành và phát triển của KCN cũng là một quá trình, trong đó các loại hình của KCN không ngừng phát triển thay thế va chuyển hoá cho nhau. Trên ý nghĩa đó mà xét, mô hình KCN không phải là cái gì đó bất biến, phù hợp với mọi giai đoạn của quá trình CNH, HĐH. Mặt khác, xây dựng các KCN lại là hoạt động của con người (Chính phủ ra quyết định thành lập và hoạt động theo quy chế thống nhất) nhằm mục tiêu kinh tế  - xã hội của mỗi giai đoạn nhất định, cho nên định hướng phát triển KCN cũng cần thay đổi để phù hợp với mục tiêu đó.

Bài viết này đề cập đến mô hình phát triển các KCN trong những năm tới và đến năm 2020.

1. Khu công nghiệp và phân loại khu công nghiệp

Nghiên cứu mô hình KCN, trước hết cần làm rõ khái niệm về KCN. Xuất phát từ mục đích nghiên cứu KCN, có những cách tiếp cận khác nhau và có những quan niệm không đồng nhất với nhau về KCN. Ở đây chúng ta nghiên cứu mô hình phát triển các KCN ở Việt Nam từ quá trình CNH, HĐH để vạch ra những mối liên hệ giữa ứng dụng khoa học công nghệ với phân công lao động, giữa phân công lao động với các hình thức hợp tác lao động, giữa các ngành, các thành phần kinh tế đồng thời chỉ ra những hình thức vận động của nó.

KCN là cấu trúc kinh tế khá phức tạp, để tìm hiểu mô hình định hướng phát triển các KCN, trước hết cần phải phân loại các KCN để có sự nhận diện về những loại KCN cụ thể. Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu KCN, người ta có các tiếp cận phân loại khác nhau:

Nghiên cứu KCN phục vụ chủ yếu cho mục đích quản lý, đề ra các chính sách, cơ chế có những cách phân loại sau:

- Dựa vào tính chất ngành nghề chia thành: KCN chuyên ngành, KCN đa ngành, KCN sinh thái.

+ KCN chuyên ngành: Hình thành do phân công chuyên môn hóa, bao gồm các xí nghiệp trong cùng một ngành sản xuất ra một hoặc một số loại sản phẩm. KCN chuyên ngành hoạt động trong một số ngành như: Cơ khí, hoá chất, vật liệu xây dựng.

+ KCN đa ngành: Gồm nhiều xí nghiệp thuộc nhiều ngành khác nhau có mối liên hệ với nhau. Loại hình này cho phép khai thác, sử dụng có hiệu quả cơ sở hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ

+ KCN sinh thái: Là loại hình cộng sinh công nghiệp, tạo sự hài hoà giữa sản xuất – cuộc sống và sự thân thiện với môi trường. Trong đó có sự lựa chọn xí nghiệp của nhiều ngành công nghiệp có mối liên hệ hỗ trợ tương tác với nhau, tạo ra sự cân bằng môi trường và phát triển bền vững.

-  Căn cứ vào qui mô: KCN chia thành KCN qui mô lớn, KCN qui mô vừa và KCN qui mô nhỏ

- Dựa vào đặc thù của từng đối tượng quản lý KCN lại được phân thành : KCN tập trung, KCN chế xuất, KCN công nghệ cao.

- Phân theo cấp quản lý tương ứng với 3 cấp quản lý nhà nước có các loại KCN: KCN do Chính phủ thành lập, KCN do tỉnh, thành phố thành lập, cụm CN do huyện thị thành lập.

Dù phân loại KCN dựa trên các tiêu thức khác nhau, song tựu chung lại ở nước ta hiện nay có các loại KCN sau:

?  Loại thứ nhất là:Các KCN được thành lập dựa trên cơ sở các xí nghiệp công nghiệp hiện có dựa trên cơ sở cải tạo hoàn thiện kết cấu hạ tầng và bảo vệ môi trường.

??Loại thứ hai là: Các KCN hình thành do giải tỏa các xí nghiệp công nghiệp đơn lẻ, kỹ thuật lạc hậu để chỉnh trang lại đô thị và chống ô nhiễm môi trường.

??Loại thứ ba là : Các KCN (cụm CN) hình thành để thu hút vốn các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ thuộc các ngành công nghiệp chế biến nông sản, sản xuất hàng tiêu dùng hoặc phát triển làng nghề truyền thống.

??Loại thứ tư là : Các KCN có quy mô lớn, tập trung, hiện đại do Chính phủ thành lập.

Nhìn chung các KCN ở nước ta hiện nay khá đa dạng về ngành nghề, lĩnh vực hoạt động, đa dạng về thành phần kinh tế và đa dạng cả về quy mô và trình độ. Tính chất đa dạng hóa phát triển các KCN ở nước ta hiện nay, một mặt cho phép phát triển ngành nghề, khai thác tiềm năng, tạo nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động, mặt khác tạo khả năng thu hút các nguồn vốn, khoa học kỹ thuật tiên tiến và công nghệ quản lý hiện đại, đặc biệt là đối với các nhà đầu tư lớn với công nghệ nguồn.

2. Mô hình KCN của một số quốc gia và sự phát triển KCN theo mô hình khu liên hợp: KCN Đô thị – Dịch vụ ở nước ta.

Việt Nam tiến hành CNH, HĐH thuộc thế hệ các quốc gia đi sau. Chúng ta đã có được những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn của các nước công nghiệp, để tranh thủ công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, rút ngắn thời gian và hạn chế nguy cơ tụt hậu bằng bước đi hợp lý, các hình thức phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Sự lựa chọn và định hướng phát triển KCN theo mô hình đúng đắn có tác động tích cực đến tiến trình CNH, HĐH. Hiện nay, trên thế giới có hàng nghìn KCN, chỉ riêng các quốc gia đang CNH có khoảng 600 KCN. Mô hình phát triển KCN của các nước rất khác nhau và ngay trong mỗi quốc gia, mô hình KCN trong mỗi giai đoạn cũng có sự thay đổi.

Một số mô hình KCN ở các quốc gia và vùng lãnh thổ:

- Mô hình phát triển các KCN ở Đài Loan: Đài Loan được coi là đi tiên phong và thành công trong phát triển KCN ở Châu Á. Thời kỳ đầu thập niên 50, 60 của thế kỷ trước, Đài Loan chủ trương phát triển các ngành công nghiệp nhẹ sản xuất hàng hóa tiêu dùng, xuất khẩu, sử dụng nhiều lao động. Hàng loạt xí nghiệp vừa và nhỏ được xây dựng tập trung trong khu vực nhất định KCN. Các xí nghiệp này được hưởng ưu đãi về thuế, tiền thuê đất và đặc biệt là thuận lợi về cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Qua mỗi giai đoạn phát triển kinh tế, mô hình các KCN của Đài Loan cũng có sự thay đổi rất cơ bản cả về quy mô, trình độ và ngành nghề, lĩnh vực hoạt động, cả về cấu trúc bên trong và hình thức của KCN. Hiện nay, ở Đài Loan có 95 KCN, trong đó, Nhà nước trực tiếp đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật là 58 KCN, còn lại là do tư nhân đầu tư. Nhà nước thống nhất quản lý đối với KCN dựa trên cơ sở phân cấp, chính quyền trung ương chỉ quản lý các KCN quan trọng có vai trò định hướng dẫn dắt nền kinh tế, còn lại giao cho địa phương và tư nhân quản lý.

Do sự phát triển của cách mạng công nghiệp mới: Công nghệ tin học, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và xu hướng tự do hóa thương mại, tự do hóa đầu tư, các nhà hoạch định chiến lược của Đài Loan hướng sự phát triển các KCN theo mô hình KCN – dịch vụ dựa trên trình độ kỹ thuật công nghệ cao, đáp ứng nhiệm vụ trung chuyển, chế biến sản phẩm cao cấp cho xuất khẩu và cho thị trường nội địa. Theo đó, quy hoạch đất đai cho xây dựng các KCN được bố trí theo cơ cấu sau:

* Để xây dựng xí nghiệp: 60%;

* Để xây dựng các công trình giao thông và bảo vệ môi trường: 33%;

* Dành cho xây dựng khu dân cư: 2,3%;

* Dành cho xây dựng các công trình vui chơi, giải trí: 4,7%;

(Trong đó đất dành cho xây dựng các công trình giao thông và bảo vệ môi trường có 10% đất trồng cây xanh).

- Mô hình phát triển các KCN của Thái Lan: Cũng như các quốc gia trong khu vực Đông Á, vào những năm 60 của thế kỷ XX, Thái Lan là nước nông nghiệp. Từ giữa thập niên 70 trở đi, quốc gia này bắt đầu phát triển KCN. Mô hình KCN đầu tiên là KCN tập trung tổng hợp, bao gồm KCN, KCX và khu dịch vụ. Sau 30 năm xây dựng, phát triển và qua những lần điều chỉnh cơ cấu lại các KCN, đến nay, KCN của Thái Lan phát triển theo mô hình KCN tổng hợp, trong đó có các KCN tập trung, KCX, khu thương mại và khu dân cư. Một KCN tổng hợp như vậy được xây dựng, sắp xếp bố trí trên diện tích khoảng 200 ha. Quan điểm của các nhà hoạch định chính sách Thái Lan cho rằng, xây dựng KCN tổng hợp, cùng với việc phân chia chức năng các KCN cho phép cung cấp cơ sở hạ tầng có lợi cho các thành phố mới, phân phối thu nhập hợp lý giữa các tầng lớp dân cư. Đặc biệt tạo điều kiện thuận lợi xây dựng hệ thống xử lý chất thải tập trung và bảo vệ môi trường, tổ chức sinh hoạt đô thị văn minh, nâng cao đời sống, nâng cao trình độ tay nghề của người lao động.

- Mô hình phát triển KCN của Trung Quốc: Sự hình thành và phát triển các loại hình của KCN gắn liền với quá trình cải cách mở cửa của Trung Quốc. Từ cuối thập niên 70 sang đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, Trung Quốc tiến hành xây dựng một số đặc khu kinh tế, có thể coi đây là mô hình đầu tiên của KCN. Các đặc khu kinh tế của Trung Quốc có các chính sách ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài về mọi mặt: Thuế, sử dụng đất, thị trường tiêu thụ, quản lý hành chính. Vì vậy, các đặc khu kinh tế hấp dẫn các nhà đầu tư và đã có tốc độ tăng trưởng cao chưa từng có.

Sau thành công của đặc khu kinh tế, Chính phủ Trung Quốc đã quyết định mở cửa để phát triển hầu hết các thành phố ở duyên hải nhằm thu hút các nguồn vốn, công nghệ tiên tiến của nước ngoài vào vùng kinh tế duyên hải. Cùng với sự phát triển sôi động mạnh mẽ của các đặc khu kinh tế duyên hải, các khu kinh tế khác cũng được thành lập ở lưu vực sông Trường Giang, sông Châu và dần dịch chuyển vào đất liền để khai phát miền Tây, thực hiện lý thuyết chuyển giao kỹ thuật hai tầng, đầu tàu dẫn dắt. Đến đây, KCN đã có sự thay đổi về cấu trúc và theo đó, mô hình mới của KCN được hình thành nhằm mục tiêu phát huy tối đa nội lực, nâng cao sức cạnh tranh quốc tế các khu kinh tế có dạng mô hình KCN tổng hợp.

Từ cuối thập niên 90 của thế kỷ XX trở đi, các KCN phát triển mạnh mẽ chuyển sang một mô thức mới mà người Trung Quốc gọi là khu khai phát (khai hóa và phát triển). Khu khai phát gắn với một đơn vị hành chính, trong đó có: KCN tập trung, khu thương mại, khu dịch vụ.

Tóm lại, qua nghiên cứu mô hình phát triển KCN của một số nước trong khu vực có sự tương đồng với chúng ta và đi trước chúng ta không xa, bước đầu có thể rút ra một vài kết luận để vận dụng vào điều kiện ở Việt Nam:

- Thứ nhất, phát triển KCN phải đặt nó trong mục tiêu phát triển chiến lược kinh tế – xã hội của nước ta trong cả một quá trình.

- Thứ hai, mô hình KCN biến đổi qua từng giai đoạn tương ứng với nội dung, nhiệm vụ của quá trình CNH, HĐH nước ta.

- Thứ ba, xu hướng phát triển KCN theo một tiến trình có tính phổ biến sau: Bắt đầu từ các KCN chuyên ngành đến xây dựng các KCN tổng hợp, khi KCN đã phát triển đến quy mô nhất định và đặc biệt là dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, KCN tất yếu phải được cơ cấu lại phát triển theo mô hình thích hợp. Xu hướng chung, KCN được xây dựng và hoàn thiện theo mô hình: KCN Đô thị – Du lịch. Đó là KCN văn minh hiện đại – một thực thể kinh tế xã hội của đất nước.

  • Tags: