Quan hệ thương mại Việt Nam-CEMAC năm 2013

Cộng đồng Kinh tế và tiền tệ Trung Phi (CEMAC) gồm 6 quốc gia nói tiếng Pháp và tiếng Bồ Đào Nha thuộc khu vực Trung Phi là: Cameroon, CH Trung Phi, CH Congo, Gabon, Guinea Xích đạo và CH Tchad.CEMAC

Đôi nét về thị trường CEMAC

Hiệp ước CEMAC năm 1994 đề ra mục tiêu thực hiện một thị trường chung «dựa trên việc tự do lưu thông hàng hoá, dịch vụ, vốn và con người”. Hiệp ước cũng nêu rõ việc cải cách thuế quan dựa trên việc thực hiện một biểu thuế quan chung và một biểu thuế ưu đãi áp dụng cho các hoạt động trao đổi giữa những nước trong khu vực. Bắt đầu được triển khai vào năm 1994, việc cải cách thuế quan bao gồm:

Việc áp dụng một biểu thuế quan ngoại khối (TEC) từ 5-30% tùy theo mặt hàng. Luật kinh doanh giữa 6 quốc gia thành viên được thống nhất và ngôn ngữ làm việc tại CEMAC là tiếng Pháp.

Biểu thuế quan ngoại khối (TEC) áp dụng đối với các mặt hàng nhập khẩu từ các nước không phải là thành viên CEMAC, được phân thành 4 loại(5%, 10%, 20% và 30%), cụ thể áp thuế 5% đối với các mặt hàng thiết yếu, 10% đối với nguyên liệu và trang thiết bị, 20% đối với các mặt hàng trung gian và 30% đối với các mặt hàng tiêu dùng thông thường.

Thuế giá trị gia tăng (VAT) là loại thuế tiêu thụ đánh vào hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa sản xuất tại địa phương. Tỷ suất thuế VAT tại khu vực dao động từ 15 đến 20%.

Thuế tiêu thụ đặc biệt, đánh vào một số hàng hóa nhập khẩu từ ngoài khối và cả hàng hóa được sản xuất tại địa phương, danh mục hàng hóa và thuế suất cụ thể ở mỗi nước khác nhau và do nước đó qui định.

Thực hiện một biểu thuế ưu đãi áp dụng đối với các trao đổi giữa những nước trong Khu vực đồng franc.

Về ngoại thương, mỗi năm, CEMAC xuất khẩu khoảng 37 tỷ USD nhập khẩu 27 tỷ USD hàng hóa các loại.

Các sản phẩm mà CEMAC có thế mạnh xuất khẩu ra thế giới gồm:

Dầu lửa, gỗ chế biến và gỗ chưa chế biến, gas (Méthanol), các sản phẩm dầu tinh lọc, ca cao, măng gan, gia súc, bông, nhôm, kim cương, cao su, cà phê, chuối, đường.

Các sản phẩm CEMAC nhập khẩu nhiều từ thế giới gồm hàng hóa trung gian, hàng tiêu dùng (lương thực thực phẩm: gạo, lúa mì, thức ăn), quần áo, giày dép, hàng điện tử, phương tiện vận tải, sản phẩm cơ khí, máy móc, thiết bị nông nghiệp.

Về cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, CEMAC có 10 cảng biển: 3 cảng nước sâu tại Cameroon, 2 cảng (1 cảng nước sâu và 1 cảng dầu lửa) tại Công-gô; 3 cảng trong đó có 2 cảng dầu lửa tại Gabon; 2 cảng tại Ghi-nê Xích đạo.

Về vận tải hàng không, có 8 sân bay quốc tế có khả năng tiếp nhận những máy bay đường dài trọng tải lớn trong đó có 3 tại Cameroon, 2 ở Congo và Gabon và 1 ở Ghi-nê Xích đạo, 1 ở CH Trung Phi và 1 tại CH Tchad. Từ khu vực Trung Phi đi Việt Nam (qua Bangkok) có hai hãng hàng không của châu Phi là Ethiopian Airlines và Kenya Airways phục vụ các chuyến bay hàng ngày. Từ khu vực này đi châu Âu có các hãng Air France, Brussels, Lufthansa, Swiss với những chuyến bay hàng ngày. Còn trong khu vực Tây Phi có các hãng hàng không Air Gabon, Gabon Air Service, Camair, Air Toumai, TAG...

Về vận tải đường bộ, hàng hóa được tự do lưu thông giữa 6 nước thành viên nhờ các tuyến đường nối liền các thủ đô của nhiều nước, giúp phục vụ những quốc gia không có biển như CH Tchad và CH Trung Phi.

2. Trao đổi thương mại Việt Nam-CEMAC

Xác định đây là một khu vực có nhiều tiềm năng xuất nhập khẩu nên Bộ Công Thương đã tổ chức đoàn nghiên cứu khảo sát thị trường và XTTM tại các quốc gia thành viên của CEMAC.

Trong khuôn khổ hợp tác với Tổ chức quốc tế Pháp ngữ (OIF) và Trung tâm Thương mại quốc tế (ITC), Việt Nam và CEMAC đã có những hoạt động như tổ chức đoàn XTTM tại Cameroon và CH Trung Phi năm 2011, Cuộc gặp bên mua/bên bán về gỗ năm 2011 tại VN và năm 2012 tại CH Congo, Hội thảo ngân hàng ASEAN-UEMOA-CEMAC tại Cameroon năm 2013… Nhân các chuyến thăm này, một số văn bản hợp tác đã được ký kết như Bản ghi nhớ (MOU) về hợp tác thương mại và công nghiệp giữa Bộ Công Thương Việt Nam và Bộ Thương mại Cộng hòa Trung Phi; MOU hợp tác giữa VCCI Việt Nam và Phòng Thương mại và Công nghiệp Pointe-Noire (CH Congo). Các doanh nghiệp hai bên cũng đã ký được nhiều hợp đồng mua bán thông qua các cuộc tiếp xúc trực tiếp.

Trao đổi Việt Nam-CEMAC tăng từ 65 triệu USD năm 2007 lên 309,5 triệu USD năm 2013 (tăng khoảng 5 lần). Cán cân thương mại tương đối cân bằng, cơ cấu xuất nhập khẩu mang tính bổ sung cho nhau. Các đối tác thương mại lớn nhất là Cameroon chiếm hơn 50% kim ngạch XNK giữa Việt Nam và CEMAC. Tiếp đến là các thị trường CH Congo và Gabon. Nhờ có cảng biển Douala hiện đại, Cameroon là nơi trung chuyển hàng hóa các nước CEMAC và Nigeria. Một số doanh nghiệp Việt Nam đã đặt văn phòng tại TP Douala để tạo điều kiện cho hoạt động nhập khẩu gỗ và xuất khẩu gạo.

Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang UEMOA đã tăng từ 37,58 triệu USD năm 2007 lên 153,65 triệu USD năm 2013 (gấp hơn 4 lần), tăng trung bình 36%/năm.

Các thị trường xuất khẩu lớn nhất tại khối này là Cameroon thường chiếm 60% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, tiếp đến là CH Congo, Gabon. Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu sang Cameroon đạt 101,4 triệu USD, tăng 64% so với 2012 với mặt hàng chính là gạo, sản phẩm sắt thép, dây cáp điện.

Các mặt hàng XK chính sang Cameroon gồm: gạo (chiếm trên 50% tổng kim ngạch XK), sản phẩm sắt thép, dệt may, hải sản, sợi và cáp điện… Các thị trường tiêu thụ gạo Việt Nam chính năm 2013 là Cameroon (60,8 triệu USD), Gabon (16,6 triệu USD), Congo (6 triệu USD), Ghi-nê xích đạo (1,6 triệu USD). Tiếp đến là sản phẩm sắt thép. Năm ngoái, Cameroon nhập khẩu sắt thép của Việt Nam với kim ngạch 14,85 triệu USD. Đứng thứ ba là hàng dệt may. Năm 2013, Việt Nam đã xuất khẩu nhóm hàng này chủ yếu sang CH Chad (8,9 triệu USD), CH Congo (5,6 triệu USD). Mặt hàng hải sản đứng vị trí thứ 4 với những thị trường chủ yếu là Cameroon (3,2 triệu USD), Congo (2,8 triệu USD), Gabon(1,7 triệu USD), Ghi-nê Xích đạo (1,3 triệu USD).

Về nhập khẩu của Việt Nam từ CEMAC, kim ngạch tăng từ 27,39 triệu USD năm 2007 lên 155,84 triệu USD năm 2013 (gấp hơn 5 lần), tốc độ trung bình 40%/năm, trong đó nhập khẩu từ Cameroon thường chiếm 55-60%. Tiếp đến là các thị trường Gabon và CH Congo.

Các mặt hàng Việt Nam mua từ các nước CEMAC gồm gỗ, bông, sắt thép phế liệu. CEMAC là khu vực cung cấp gỗ chính cho Việt Nam tại châu Phi, chiếm tới 80% tổng kim ngạch nhập khẩu từ CEMAC. Năm 2013, các nước cung cấp gỗ chính gồm Cameroon (78,2 triệu USD, chiếm 63% kim ngạch nhập khẩu gỗ từ CEMAC), Gabon (19 triệu USD), Congo (14,5 triệu USD), CH Trung Phi (9,5 triệu USD), Ghi-nê Xích đạo (3,8 triệu USD). Các nước xuất khẩu bông sang Việt Nam gồm Cameroon (4,3 triệu USD), Chad (0,95 triệu USD). Về sắt thép phế liệu, Việt Nam nhập khẩu mặt hàng này chủ yếu từ Gabon (10,2 triệu USD), CH Congo (1,46 triệu USD), Ghi-nê Xích đạo (0,8 triệu USD).

Về đầu tư, tại Cameroon, Viettel đang đầu tư cung cấp dịch vụ điện thoại di động với tổng vốn dự kiến 400 triệu USD. Mới đây, Tập đoàn Xuân Thành đã công bố dự án đầu tư nhà máy xi măng và thủy điện tại Cameroon. Tại CH Congo, Petro Vietnam cũng đang tham gia dự án thăm dò và khai thác dầu khí. Với việc các doanh nghiệp Việt Nam sang đầu tư, mở văn phòng đại diện, kho ngoại quan tại khu vực CEMAC, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này dự báo sẽ có mức tăng trưởng tích cực./.