Là thành viên của WTO và tham gia các Hiệp định FTA song phương cũng như trong khu vực khác, thuế nhập khẩu hàng hóa của Băng-la-đét sẽ được điều chỉnh giảm theo lộ trình nhất định.
Theo cam kết khi gia nhập Hiệp định khu vực thương mại tự do Nam Á - SAFTA, Băng-la-đét cam kết sẽ giảm thuế từ 0 – 5 % vào năm 2016 đối với các mặt hàng không thuộc danh sách nhạy cảm, cũng như giảm số lượng dòng sản phẩm mã HS thuộc danh sách nhạy cảm từ 1234 dòng sản phẩm xuống còn 993 dòng vào ngày 1 tháng 1 năm 2012.
Theo WTO, mức thuế theo MFN trung bình của Băng-la-đét đã giảm đáng kể, từ 70,6% vào năm 1992 xuống 28,7% vào năm 1996 và chỉ còn 14,9% vào năm 2012. Tuy nhiên, mức thuế này hiện vẫn là mức cao nhất trong các nước khu vực Nam Á. Thuế nhập khẩu của Băng-la-đét được tính theo trị giá hàng hóa, Bảo hiểm và Cước vận chuyển (CIF) của hàng hóa nhập khẩu. Biểu thuế quan nhập khẩu hàng hóa của Băng-la-đét được phân loại dựa trên danh mục bảng mã HS 2007. Theo đó, từ năm 2012, Băng-la-đét có 6.106 dòng thuế được phân loại ở mã HS 8 số (năm 2006 là 6.627 dòng thuế). Thuế suất đối với các nguyên vật liệu cơ bản, máy móc và thiết bị, hàng hóa trung gian và thành phẩm lần lượt là 5%, 3%, 12% và 25%. Các mặt hàng như gạo, lúa mỳ, hành tây, đậu, dầu ăn, phân bón, hạt giống, thuốc, bông có thuế suất không thay đổi là 0%.
Trong giai đoạn 2011 – 2012, thuế MFN trung bình được áp dụng cho các sản phẩm chính là 15%, đối với các sản phẩm sơ chế là 13,4% và đối với thành phẩm là 15,6%. Đặc biệt, thuế suất trung bình đối với các thành phẩm thuộc các lĩnh vực như dệt may, da, gỗ và các sản phẩm từ gỗ, hóa chất, kim loại thường, thường cao gấp 02 lần so với thuế suất của thành phẩm từ các nguyên vật liệu thô.
Một số loại thuế liên quan về xuất nhập khẩu của Băng-la-đét:
1. Ưu đãi thuế quan:
Ưu đãi và miễn trừ thuế đối với các dòng thuế MFN được quy định theo Mục 19 của Luật Hải quan. Băng-la-đét hiện duy trì khoảng 20 dòng thuế ưu đãi với các tỷ lệ khác nhau, từ 0 tới 15% tùy theo các điều khoản và điều kiện nhất định. Có 03 loại ưu đãi thuế quan gồm: i) Đối với việc nhập khẩu máy móc, thiết bị dụng cụ và phụ tùng phục vụ sản xuất, bao gồm cả các ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu; ii) Đối với việc nhập khẩu cho mục tiêu xuất khẩu; iii) Đối với việc nhập khẩu nguyên liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng thiết yếu, như sản phẩm trong các ngành sữa, gia cầm, dược phẩm, da và dệt may. Hiện nay, Ủy ban Quốc gia về Thu nhập (NBR) của Băng-la-đét cho phép miễn trừ đặc biệt đối với các sản phẩm như: máy móc, nguyên liệu dược phẩm, thức ăn chăn nuôi, hóa chất của da và đồ da, nguyên vật liệu dệt may, hàng cứu trợ, hàng hóa sử dụng cho người khiếm thị và khuyết tật… được nhập khẩu bởi các Đại sứ quán và các tổ chức của Liên Hợp Quốc.
2. Thuế suất đặc biệt
Thuế suất đặc biệt được áp dụng đối với một số mặt hàng thiết yếu, nhằm giảm gánh nặng thuế đối với những mặt hàng này, hoặc tối thiểu hóa tác động của thuế suất đối với giá bán trong thị trường nội địa do biến động về giá cả. Thuế suất đặc biệt này được áp dụng đối với các mặt hàng như: xi măng, clanhker, tàu thuyền, chất thải kim loại màu và phế liệu, sắt và phôi thép phi hợp kim, bán thành phẩm từ sắt thép…
3. Thuế nhập khẩu ưu đãi theo các thỏa thuận thương mại:
Băng-la-đét áp dụng ưu đãi thuế quan đối với các thỏa thuận thương mại song phương và đa phương gồm: Hiệp định Thương mại Châu Á Thái Bình Dương (APTA); Khu vực Thương mại Tự do Nam Á (SAFTA) và Hệ thống toàn cầu về các ưu đãi thương mại. Số lượng mặt hàng và biên độ ưu đãi khác nhau tùy theo cam kết tại mỗi Hiệp định.
4. Thuế Giá trị gia tăng:
Thuế giá trị gia tăng được áp dụng với mức chung là 15% đối với tất cả các hàng hóa nhập khẩu cũng như các hàng hóa được sản xuất trong nước. Đối với trường hợp nhập khẩu, việc định giá được dựa trên giá C.I.F, cộng thêm thuế nhập khẩu và một số loại thuế khác như thuế bổ sung. Tuy nhiên, thuế giá trị gia tăng của hàng nhập khẩu nhưng được sử dụng trong sản xuất hàng hóa để xuất khẩu sẽ được hoàn trả lại.
5. Thuế bổ sung:
Thuế bổ sung trong năm 2012 bao gồm tới 1.267 dòng thuế. Theo Luật thuế Giá trị Gia tăng năm 1991, thuế bổ sung là nhằm mục đích hạn chế nhập khẩu hàng hóa xa xỉ, sản xuất hoặc cung cấp các hàng hóa, dịch vụ không được khuyến khích về đạo đức, tôn giáo, y tế và xã hội. Theo đó, thuế suất tối thiểu đối với thuế bổ sung là 250%, chủ yếu được áp dụng đối với đồ uống có cồn, thuốc lá và xe ôtô hạng sang.
6. Thuế quy định:
Thuế quy định được áp dụng từ năm 2000. Trong bối cảnh thuế hải quan giảm dần, việc áp dụng thuế quy định 5% đối với những mặt hàng phải chịu thuế trên 25%, ngoại trừ những mặt hàng được hưởng ưu đãi, nhằm bảo vệ cũng như bảo sự đảm tăng trưởng doanh thu, thu nhập cho các ngành công nghiệp trong nước. Thuế nhập khẩu được phân loại theo 3 loại chính sau:
- Máy móc thiết bị và nguyên phụ liệu sản xuất cơ bản: 0% và 6%
- Bán thành phẩm: 6% và 13%
- Sản phẩm hoàn thiện: 25%
