Theo giải thích của ông Đặng Huy Cường - Cục trưởng Cục Điều tiết Điện lực (Bộ Công Thương), việc điều chỉnh giá điện theo hướng tăng 5% nhằm giải quyết ba vấn đề: Do giá than bán cho điện tăng từ 37-40% và tiếp tục tăng trong quý III/2013 là áp lực đẩy chi phí giá mua điện từ các nhà máy nhiệt điện lên khoảng 4.000 tỷ đồng trong quý III; giải quyết món nợ hơn 3.000 tỷ đồng mua khí giai đoạn 2009-2012 của Tổng công ty Khí quốc gia (PVgas); đặc biệt là để thực hiện đầu tư, cải tạo lưới điện nông thôn, nâng cao khả năng cung cấp điện an toàn, tin cậy.
Điều chỉnh giá điện, có lẽ cũng là điều “cực chẳng đã” vào thời điểm này, bởi EVN, hay các cơ quan chức năng, quản lý Nhà nước không phải không biết.
Cho phép điều chỉnh giá điện, Chính phủ đã phải cân nhắc kỹ đến những hệ lụy liên quan đến cả nền kinh tế và an sinh xã hội. Mỗi lần các mặt hàng như than, xăng dầu, điện, nước… tăng giá là các cơ quan nhà nước đã phải dựa trên cơ sở tính toán khoa học, đảm bảo hài hòa lợi ích quốc gia, doanh nghiệp và người dân. Một chuyên gia kinh tế cho biết, muốn có một nhà máy thủy điện 1.200 MW, vốn đầu tư cần khoảng 40.000 ngàn tỷ đồng. Để sản xuất được 01 kWh điện, Thủy điện Hòa Bình phải mất 5 m3 nước, còn Thủy điện Thác Bà là 10 m3, chỉ cần 01 kWh điện có thể làm mát từ các máy lạnh cho một phòng làm việc, hay phòng nghỉ không lớn hàng giờ đồng hồ. Nói như vậy để thấy giá điện của Việt Nam cao hay thấp, đắt hay rẻ.
Có lẽ cũng không cần phải bàn nhiều đến những lý giải của Cục Điều tiết Điện lực, bởi theo cơ chế thị trường, giá mua than tăng cao, giá điện cứ giữ như vậy thì ngành Điện không thể bù đắp chi phí, phát triển sản xuất. Những năm trước, mua điện giá cao của các doanh nghiệp phát điện ngoài ngành để bù đắp lượng điện thiếu hụt phục vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân thì nên phải trả nợ, nếu không thì thiếu điện. Điều này thì không chỉ có Tập đoàn Điện lực, mà ngay cả ngành Dầu khí, ngành Than – những nhà làm điện không phải của EVN cũng đều biết và đã cùng chung vai gánh vác. Còn tăng giá điện để trả nợ những khoản vay trong nước, vay nước ngoài trước đây và cả những năm tới cho đầu tư phát triển lưới điện nông thôn thì không thể không làm. Bà con các dân tộc, khu vực nông thôn hưởng lợi từ chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước mà ngành Điện chỉ là công cụ thực hiện chủ trương, chính sách đó. Nếu Nhà nước không làm, sẽ chẳng biết bao giờ người dân vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới có điện. Có điện rồi, sử dụng điện rồi, nhưng thu tiền điện của bà con cũng đâu có dễ. Lên Cao Bằng, Bắc Kạn, Mù Cang Chải…, muốn thu được tiền vài ba số điện, phải đi dăm lần, bảy lượt cũng chưa chắc đã gặp vì họ lên nương cả tuần. Có gia đình còn bảo: “cán bộ có bắt con gà, hay lấy bắp ngô thì cứ lấy, chứ chẳng có tiền đâu”. Mà hiện tại, nhiều nơi ở các tỉnh miền núi, vùng cao phía Bắc, khu vực Tây Nguyên, việc cấp điện còn nhiều khó khăn, do vậy, nếu có tăng giá để bù đắp, để phát triển lưới điện cũng là việc làm hết sức cần thiết.
Sẽ còn nhiều khó khăn trong những năm tới đối với ngành Điện, trong đó đặc biệt là vấn đề thiếu điện. Thủy điện Lai Châu có lẽ là dự án cuối cùng của quy hoạch thủy điện nước ta; than khai thác rồi cũng sẽ cạn kiệt, không đủ để mãi sử dụng nguồn nhiên liệu này cho phát điện, trong khi sản lượng điện do Tập đoàn Điện lực Việt Nam sản xuất so với các doanh nghiệp ngoài EVN giờ cũng chỉ đạt trên dưới 50% sản lượng điện toàn hệ thống. Để huy động, thu hút nhà đầu tư trong nước và nước ngoài phát triển các dự án điện tại nước ta, trong những năm tới, chắc chắn giá điện sẽ còn phải điều chỉnh, bởi suất đầu tư ban đầu cho 01 kWh điện gió, điện mặt trời, điện hạt nhân sẽ rất cao. Tuy nhiên, cái được là sự thỏa mãn nhu cầu của người dân, là vấn đề môi trường và phát triển bền vững.
Cuối cùng, trong muôn vàn cái khó khăn của thời kỳ hội nhập, của giai đoạn kinh tế thị trường, để phục vụ nhân dân, ngành Điện sẽ còn phải cố gắng, nỗ lực nhiều hơn nữa và cũng rất cần nhiều hơn sự quan tâm, chia sẻ của toàn xã hội.
