Quyết định bất ngờ
Ngày 15/9/2006, Quyết định 39/2006/ QĐ-BTC về việc ban hành Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi chính thức có hiệu lực. Theo đó, 04 mặt hàng xơ, sợi polyester chịu mức thuế suất nhập khẩu 5% (so với mức cũ là 0% và 1%). Trong công văn số 156 ngày 31/8/2006, Hiệp hội Dệt May nêu rõ, việc Bộ Tài chính thay đổi mức thuế nhập khẩu đối với mặt hàng trên là hoàn toàn bất ngờ đối với Hiệp hội Dệt May Việt Nam. Cộng đồng doanh nghiệp dệt may chưa từng được tham khảo ý kiến về việc đó. Còn theo các doanh nghiệp đang phải gánh chịu hậu quả trực tiếp của Quyết định này thì đây là sự “áp đặt” không công bằng cho ngành Dệt.
Trở lại với Quyết định 39, Bộ Tài chính lý giải rằng, căn cứ chiến lược phát triển ngành Dệt May đến năm 2010, hiện nay trong nước đã đầu tư sản xuất nguyên liệu xơ, sợi polyester, có khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nước và vì vậy, cần phải ban hành chính sách bảo hộ hợp lý, cụ thể là tăng mức thuế nhập khẩu xơ, sợi polyester lên 5% để góp phần phát triển nguồn nguyên liệu dệt may trong nước.
Nhưng thực tế có phải như vậy?
Ngành Dệt bị sốc
Tuy Bộ Tài chính cho rằng, sản xuất trong nước đã đáp ứng đủ nhu cầu, nhưng theo Báo cáo của Hiệp hội Dệt May Việt Nam, thì năng lực sản xuất trong nước đối với các mặt hàng này còn quá chênh lệch so với nhu cầu, hiện tại mới có 01 dự án bước đầu triển khai hoạt động là Công ty Formosa (KCN Biên Hòa - Đồng Nai), sản lượng còn hạn chế: Xơ polyester (mã HS 5503 20 00) hết công suất đạt khoảng 4.500 tấn/tháng; sợi P-POY (mã HS 5402 33 00) khoảng 1.500 tấn/tháng; sợi P-DTY (mã HS 5402 33 00) khoảng 1.500 tấn/tháng, chưa đáp ứng được nhu cầu cả về số lượng và chủng loại chưa nói đến chất lượng và giá cả.
Theo tính toán của các chuyên gia trong Ngành, riêng nguyên liệu xơ, sợi Việt Nam phải nhập khẩu đến 99% (khoảng 100.000 tấn/năm). Đây cũng là nguyên liệu chính cho các nhà máy kéo sợi, chiếm khoảng 65-70% trong giá thành. Việc tăng thuế nhập khẩu xơ, sợi polyester sẽ làm cho giá thành tăng khoảng 3,5-4%, khiến khả năng cạnh tranh giảm, nhiều nguy cơ bị mất đơn hàng xuất khẩu vào tay các đối thủ cạnh tranh khác có lợi thế vừa sản xuất nguyên phụ liệu, vừa sản xuất thành phẩm đầu ra (sợi, vải, hàng may mặc) như Trung Quốc, ấn Độ và một số nước ASEAN khác.
Theo thống kê của Hải quan, tạm tính tới 6 tháng đầu năm 2006, nhập khẩu xơ polyester (mã HS 5503 20 00) là 20.684 tấn; nhập khẩu sợi filament tổng hợp từ các polyester được định hướng một phần (mã HS 5402 42 00) là 23.550 tấn; nhập khẩu sợi filament tổng hợp từ các polyester loại khác (mã HS 5402 43 00) là 24.959 tấn; nhập khẩu sợi filament tổng hợp từ các polyester (mã HS 5402 33 00) là 65.653 tấn. Và theo điều tra nhanh của người viết bài này với một số doanh nghiệp dệt thuộc Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) thì, Dệt May Hà Nội nhập khẩu khoảng 1.200 tấn xơ, sợi/tháng; Dệt May Huế khoảng 400 tấn/tháng; Dệt Vĩnh Phú khoảng 100 tấn/tháng; Dệt Việt Thắng khoảng 400 tấn/tháng; Dệt lụa Nam Định khoảng 100 tấn/tháng; Dệt Nam Định khoảng 500 tấn/tháng và Dệt May Thành Công cũng khoảng 500 tấn/tháng. Mỗi tấn xơ, doanh nghiệp phải nộp thêm trung bình hơn 1 triệu đồng tiền thuế, phần này được lấy từ phần lợi nhuận ít ỏi của ngành Dệt. Nghĩa là Nhà nước thu được thêm thuế, nhưng cuộc sống của hàng ngàn lao động ngành Dệt sẽ bị đe dọa khi doanh nghiệp Dệt rơi vào tình trạng lỗ.
Chỉ lấy đơn cử như Công ty Dệt Việt Thắng. Năm 2005, Công ty lãi xấp xỉ 2 tỉ đồng. Năm nay, mỗi tháng áp dụng mức thuế mới, Công ty mất đi hơn 400 triệu đồng, 3 tháng rưỡi là 1,4 tỉ đồng, số lãi còn lại sẽ là rất ít, còn sang năm 2007 lỗ là cầm chắc. Ông Đào Văn Phương – Tổng giám đốc Công ty Dệt lụa Nam Định bức xúc: “Lợi nhuận của ngành Dệt làm sao đạt được 5% mà Nhà nước thu thuế như vậy, chúng tôi làm sao chịu nổi”. Ông Tạ Thái Dũng – Phó tổng giám đốc Công ty Dệt 8-3 cho biết: “Với ngành Dệt May, để có lợi nhuận 1-2% là rất khó. Nhiều khi, chỉ cần có đủ việc làm cho người lao động là chúng tôi đã làm, chưa dám mơ đến lợi nhuận. Việc điều chỉnh mức thuế này, chúng tôi là những người trong cuộc, nhưng hoàn toàn không được biết trước. Điều đó là không bình đẳng đối với doanh nghiệp”. Gay gắt hơn, ông Nguyễn Văn An – Tổng giám đốc Công ty Dệt Vĩnh Phú còn ví, việc tăng thuế nhập khẩu xơ sợi đối với ngành Dệt như là một vết thương không có kháng sinh đặc trị và con bệnh ngày càng suy yếu thêm. Ngành Dệt đã khó khăn giờ càng khó khăn hơn khi giá thành tăng, không có khả năng cạnh tranh nổi với hàng Trung Quốc vốn đã và đang chiếm lĩnh thị trường.
Và kiến nghị
Hầu hết các doanh nghiệp đều cho rằng, với mức thuế như cũ là hợp lý. Thời hạn gia nhập WTO của Việt Nam đã cận kề, nên các ưu đãi với ngành Dệt đã bị dỡ bỏ. Vậy thì việc cắt giảm, dỡ bỏ thuế quan đối với các mặt hàng, trong đó có xơ, sợi polyester mới là hợp với qui luật hội nhập kinh tế chứ không phải là tăng thuế để bảo hộ hàng sản xuất trong nước, trong khi sản xuất đó chưa đáp ứng được yêu cầu. Mức thuế mới 5% là quá cao, sẽ đẩy các doanh nghiệp Dệt vào tình trạng thua lỗ, người lao động mất việc làm, gây bất ổn cho nền kinh tế đất nước.
Cũng có ý kiến cho rằng, các doanh nghiệp Dệt nên chuyển hướng sang nhập khẩu xơ, sợi từ các nước ASEAN và Trung Quốc để chịu thuế suất 0% theo cam kết AFTA. Nhưng các nhà sản xuất cũng rất e ngại, vì Trung Quốc vừa là nhà cung cấp nguyên liệu đầu vào (xơ, sợi), lại vừa là nhà xuất khẩu thành phẩm đầu ra (sợi, vải, may mặc), nếu bị phụ thuộc nhập khẩu quá nhiều vào họ, các doanh nghiệp Việt Nam càng khó cạnh tranh xuất khẩu trên thị trường quốc tế. Như vậy, việc tăng thuế nhập khẩu không đem lại tác dụng bảo hộ sản xuất trong nước như mong muốn, mà chỉ có lợi cho một vài doanh nghiệp và các nhà xuất khẩu Trung Quốc, đồng thời lại gây bất lợi cho các doanh nghiệp sản xuất sợi, vải Việt Nam.
Để thực hiện chính sách khuyến khích đầu tư thì tăng thuế nhập khẩu không phải là cách duy nhất. Có thể sử dụng biện pháp ưu tiên khác thay thế. Vì vậy, Hiệp hội Dệt May đã kiến nghị Bộ Tài chính xem xét chưa tăng thuế nhập khẩu đối với 04 mặt hàng xơ, sợi polyester như đã nêu. Và nếu buộc phải tăng vì một lý do nào đó, thì cũng nên “có thông tin và lộ trình” như lời ông Lê Quốc Ân – Chủ tịch Hiệp hội Dệt May. Cần có sự bàn bạc với các nhà sản xuất, để khi đưa ra quyết định không mang tính áp đặt, gây phản ứng trong doanh nghiệp. Tăng thuế phải có lộ trình, doanh nghiệp phải được biết trước để chủ động trong sản xuất kinh doanh và để xem thị trường chịu đựng được đến đâu. Nếu chỉ dựa vào ý kiến chủ quan của một số ít người để đưa ra quyết định không hợp lòng dân sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sự ổn định của nền kinh tế.
