Tạo động lực cho khu vực tư nhân trong đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công: Những vấn đề pháp lý đặt ra

Bài báo Tạo động lực cho khu vực tư nhân trong đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công: Những vấn đề pháp lý đặt ra do Nguyễn Trí Hoàng (Chánh Văn phòng HĐND và UBND xã Phú Riềng, tỉnh Đồng Nai) thực hiện.

Tóm tắt:

Các quy định pháp luật về đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên hiện nay được pháp điển hóa trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Bài viết tập trung phân tích các quy định pháp luật hiện hành về đấu thầu sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên; làm rõ những rào cản pháp lý đối với sự tham gia của khu vực tư nhân; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, tạo môi trường thuận lợi và thúc đẩy khu vực tư nhân tích cực tham gia vào hoạt động đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công.

Từ khóa: đấu thầu, sản phẩm dịch vụ công, đơn vị sự nghiệp công, ngân sách nhà nước, nguồn kinh phí thường xuyên, pháp luật đấu thầu.

1. Đặt vấn đề

Sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn chi thường xuyên (SPDVC) hiện được triển khai qua 3 hình thức: Giao nhiệm vụ, đặt hàng và đấu thầu. Trong đó, đấu thầu được xem là phương thức tối ưu hóa nguồn lực tài chính nhà nước nhờ khả năng lựa chọn những nhà thầu có năng lực quản trị, công nghệ và tư duy tiên tiến.

Việc khu vực tư nhân (KVTN) tham gia đấu thầu giúp tăng tính cạnh tranh, giảm áp lực ngân sách và nâng cao chất lượng SPDVC. Tuy nhiên, dù hành lang pháp lý đã hoàn thiện nhưng sức hút đối với khu vực tư nhân tham gia đấu thầu vẫn chưa đạt kỳ vọng cao. Nguyên nhân chủ yếu do khung đơn giá đấu thầu thiếu linh hoạt và sự không đồng nhất giữa quy định của cơ quan ban hành với chính sách địa phương. Vì vậy, việc cần thiết là đề ra giải pháp khắc phục các khó khăn này nhằm tạo động lực cho KVTN tham gia đấu thầu cung cấp SPDVC.

2. Tổng quan nghiên cứu

2.1. Quy định chung của pháp luật về đấu thầu cung cấp SPDVC

- Khái niệm “đấu thầu cung cấp SPDVC”

Trước đây khái niệm về đấu thầu cung cấp SPDVC được định nghĩa tại quy định Khoản 10 Điều 3 Nghị định số 32/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019:“Đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp sản phẩm, dịch vụ công trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.” nhưng hiện đã bị bãi bỏ bởi Khoản 7 Điều 143 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP ngày 04/08/2025.

Hiện chỉ còn khái niệm về đấu thầu được quy định tại Khoản 8 Điều 4 Luật Đấu thầu 2023: “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết, thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, lựa chọn nhà đầu tư để ký kết, thực hiện hợp đồng dự án đầu tư kinh doanh trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch, hiệu quả kinh tế và trách nhiệm giải trình.”

Có thể hiểu: “Đấu thầu cung cấp SPDVC là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp SPDVC trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch, hiệu quả kinh tế và trách nhiệm giải trình.”

- Khái niệm SPDVC và phân loại

SPDVC là sản phẩm, dịch vụ thiết yếu đối với đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, cộng đồng dân cư hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh mà Nhà nước phải tổ chức thực hiện trong các lĩnh vực: Giáo dục đào tạo; giáo dục nghề nghiệp; y tế; văn hóa, thể thao và du lịch; thông tin và truyền thông; khoa học và công nghệ; tài nguyên và môi trường; giao thông vận tải; nông nghiệp và phát triển nông thôn; công thương; xây dựng; lao động thương binh và xã hội; tư pháp và các lĩnh vực khác theo quy định của Chính phủ. SPDVC bao gồm dịch vụ sự nghiệp công và sản phẩm, dịch vụ công ích.1 Trong đó:

- Dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước là dịch vụ sự nghiệp công mà Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoặc dịch vụ sự nghiệp công chưa tính đủ chi phí trong giá, phí, được ngân sách nhà nước hỗ trợ.2

- Sản phẩm dịch vụ công ích là sản phẩm, dịch vụ mà việc sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ này theo cơ chế thị trường khó có khả năng bù đắp chi phí hoặc sản phẩm, dịch vụ có tính chất đặc thù; được Nhà nước trợ giá phần chênh lệch giữa giá tiêu thụ, giá sản phẩm dịch vụ theo quy định của Nhà nước hoặc phần chênh lệch giữa số tiền do người được hưởng sản phẩm dịch vụ công ích thanh toán theo quy định của Nhà nước, với chi phí hợp lý của nhà sản xuất, cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích để sản xuất, cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích do Nhà nước đặt hàng (hoặc giao nhiệm vụ theo quy định của pháp luật chuyên ngành nếu có).3

- Quy định pháp luật về đấu thầu lựa chọn nhà thầu cung cấp SPDVC

* Điều kiện thực hiện phương thức đấu thầu lựa chọn nhà thầu cung cấp SPDVC:

Theo quy định tại Điều 16, Điều 21 Nghị định số 32/2019/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 214/2025/NĐ-CP: Đối với SPDVC đáp ứng điều kiện đặt hàng theo quy định tại Nghị định này mà cơ quan đặt hàng quyết định không áp dụng hình thức này thì được áp dụng một trong các hình thức lựa chọn nhà thầu khác theo quy định của pháp luật về đấu thầu. Dựa trên quy định này, phương thức đấu thầu chỉ được thực hiện khi đáp ứng đủ 2 điều kiện: (1) Đáp ứng điều kiện đặt hàng theo quy định; (2) Cơ quan đặt hàng quyết định không lựa chọn đặt hàng mà lựa chọn nhà thầu theo pháp luật về đấu thầu.

Có thể thấy, Nghị định số 214/2025/NĐ-CP đã thay đổi rất lớn cơ chế cung cấp SPDVC khi quy định việc đấu thầu chỉ được thực hiện nếu cơ quan đặt hàng quyết định không chọn hình thức đặt hàng. So với Nghị định số 32/2019/NĐ-CP vốn không quy định thứ tự ưu tiên giữa các hình thức nhưng trong Nghị định số 214/2025/NĐ-CP ta có thể ngầm hiểu phương thức đặt hàng được ưu tiên hơn đấu thầu, dù đây là quyền tùy nghi của chủ đầu tư. Đặc biệt, để được đấu thầu, SPDVC và các nhà thầu liên quan trước hết phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chí của hình thức đặt hàng. Cụ thể:

- Về việc đáp ứng điều kiện đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công:

Đối với dịch vụ sự nghiệp công, điều kiện đặt hàng được quy định khác nhau giữa đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc cơ quan quản lý cấp trên đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công (“ĐVSNCL”) và nhà cung cấp dịch vụ sự nghiệp công khác. Trong đó, ĐVSNCL trực thuộc cơ quan quản lý cấp trên đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công phải đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 32/2019/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 214/2025/NĐ-CP; nhà cung cấp dịch vụ sự nghiệp công khác phải đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Khoản 2 điều này.

Vậy vấn đề đặt ra, khi cơ quan đặt hàng lựa chọn hình thức đấu thầu, thì ĐVSNCL đáp ứng đủ các điều kiện đặt hàng và tham gia đấu thầu thì có được tham gia đấu thầu cạnh tranh với các nhà cung cấp dịch vụ sự nghiệp công khác hay không? Dù luật chưa quy định trực tiếp trường hợp này nhưng căn cứ định nghĩa nhà thầu: “Nhà thầu là tổ chức, cá nhân hoặc kết hợp giữa các tổ chức hoặc giữa các cá nhân với nhau theo hình thức liên danh trên cơ sở thỏa thuận liên danh tham dự thầu, đứng tên dự thầu và trực tiếp ký, thực hiện hợp đồng nếu được lựa chọn. Trường hợp liên danh, thỏa thuận liên danh phải quy định rõ trách nhiệm của thành viên đứng đầu liên danh và trách nhiệm chung, trách nhiệm riêng của từng thành viên trong liên danh đối với toàn bộ phạm vi của gói thầu”4. Có thể thấy pháp luật không hạn chế nhà thầu là ai, mà chỉ quy định nhà thầu là tổ chức, cá nhân tham gia dự thầu, đứng tên dự thầu và trực tiếp ký, thực hiện hợp đồng nếu được lựa chọn. Như vậy, ĐVSNCL vẫn có thể tham gia đấu thầu. Và đây cũng được xem là cơ chế cạnh tranh mà pháp luật đặt ra giữa các nhà thầu tham gia cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, không hạn chế khu vực công hay KVTN.

- Về việc đáp ứng điều kiện đặt hàng cung cấp sản phẩm dịch vụ công ích:

Việc đặt hàng nhà sản xuất, cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích khi đáp ứng các điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 17 Nghị định số 32/2019/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 214/2025/NĐ-CP.

2.2. Các hình thức đấu thầu lựa chọn nhà thầu cung cấp SPDVC

Trước đây, Nghị định số 32/2019/NĐ-CP quy định tại Điều 16 và Điều 21 về việc lựa chọn nhà thầu cung cấp SPDVC được thực hiện theo 2 hình thức là: Đấu thầu rộng rãi và Đấu thầu hạn chế. Nghị định số 214/2025/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung Điều 16 và Điều 21 của Nghị định số 32/2019/NĐ-CP như sau: “Đối với SPDVC đáp ứng điều kiện đặt hàng theo quy định tại Nghị định này mà cơ quan đặt hàng quyết định không áp dụng hình thức này thì được áp dụng một trong các hình thức lựa chọn nhà thầu khác theo quy định của pháp luật về đấu thầu.”

Theo đó, các hình thức lựa chọn nhà thầu cung cấp SPDVC không chỉ giới hạn ở hình thức đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế mà còn bao gồm các hình thức khác theo quy định tại Điều 20 Luật Đấu thầu 2023, gồm: Chỉ định thầu; Chào hàng cạnh tranh; Mua sắm trực tiếp; Tự thực hiện; Tham gia thực hiện của cộng đồng; Đàm phán giá; Lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt.

Do đó, việc lựa chọn hình thức nào còn áp dụng vào đặc điểm của SPDVC cần cung cấp. Đây cũng là quy định mở của pháp luật về lựa chọn nhà thầu cung cấp SPDVC để việc cung cấp SPDVC được thực hiện một cách nhanh chóng, hiệu quả, phù hợp với từng lĩnh vực, trường hợp cụ thể.

3. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu văn bản pháp luật, sách và các công trình khoa học liên quan đến đấu thầu cung ứng SPDVC.

Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp số liệu thực tế từ các gói thầu SPDVC đã triển khai.

Phương pháp phân tích và tổng hợp: sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp thông qua việc nghiên cứu các tài liệu, pháp luật có liên quan đến việc thực hiện đấu thầu SPDVC và tổng hợp bằng cách liên kết lại các vấn đề cần giải quyết liên quan đến nội dung nghiên cứu.

Phương pháp so sánh, đánh giá: Phương pháp này giúp cho đề tài có được cái nhìn toàn diện, đúng đắn về các vấn đề nghiên cứu từ đó rút ra được những giải pháp có tính chính xác, khoa học và tìm được các giải pháp, nâng cao hiệu quả giúp nhà thầu thuộc KVTN giải quyết vấn đề khó khăn khi tham gia cung cấp SPDVC.

4. Một số rào cản pháp lý cho KVTN tham gia đấu thầu cung cấp SPDVC

Sự tham gia của KVTN vào cung cấp SPDVC thông qua đấu thầu được kỳ vọng sẽ mang lại tính cạnh tranh, tiết kiệm tối đa Ngân sách Nhà nước. Mặc dù khung pháp lý đã có những bước mở với Luật Đấu thầu 2023 và các văn bản hướng dẫn, nhưng thực tế triển khai cho thấy vẫn còn khoảng cách lớn.

Thứ nhất, quy định về giá, đơn giá và dự toán chi phí cung cấp SPDVC.

Trong các rào cản, quy định về giá và dự toán được coi là “nút thắt” lớn nhất khiến KVTN khó mặn mà với các gói thầu cung cấp SPDVC. Hiện tại, giá, đơn giá của SPDVC được xác định trên cơ sở định mức kinh tế - kỹ thuật và định mức chi phí do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Định mức này được ban hành nhằm đảm bảo những yếu tố cơ bản trong một gói thầu, nhưng chưa thực sự đem lại lợi ích lớn cho KVTN.

Định mức được đưa ra nhiều khi không phản ánh đúng thực tế. Khi tính định mức thì cơ quan dự toán thường chỉ tập trung vào các chi phí trực tiếp như máy móc, vật liệu, nhân công nhưng lại tính toán rất thấp hoặc bỏ qua các chi phí gián tiếp như chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí đào tạo nguồn nhân lực… cũng là một yếu tố chủ chốt để đánh giá sau khi gói thầu hoàn thành có mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp hay không. Ngoài ra, yếu tố trượt giá cũng chưa được xem xét khi giá nguyên vật liệu, nhiên liệu hoặc lương tối thiểu vùng tăng lên, doanh nghiệp phải tự gánh chịu phần chênh lệch.

Thực tế, đại diện Tập đoàn Đèo Cả cho biết, theo đơn giá ban hành của các địa phương trên địa bàn dự án, giá nhân công các bậc chỉ khoảng 200.000 - 300.000 đồng/ngày trong khi trên thị trường giá nhân công chưa qua đào tạo đã 400.000 - 500.000 đồng/ngày. Đại diện Công ty TNHH Thương mại và Xây dựng Trung Chính cũng cho biết, chi phí thuê thép trên thị trường khoảng 700.000 - 900.000 đồng/tấn/tháng, trong khi định mức đơn giá chỉ khoảng 255.000 đồng/tấn/tháng. Nguyên nhân vì định mức xây dựng theo Thông tư số 12/2021/TT-BXD của Bộ xây dựng không phản ánh đúng thực tế thị trường, đồng thời định mức mới có xu hướng cắt giảm so với định mức cũ. Điều này dẫn đến tình trạng “doanh nghiệp càng làm càng lỗ”.5

Hiện tại, dù có nhiều phương pháp lựa chọn nhà thầu khác như phương pháp giá thấp nhất, phương pháp giá cố định, phương pháp đánh giá, phương pháp kết hợp giữa kỹ thuật và giá, phương pháp kỹ thuật,… nhưng yếu tố về giá vẫn là một trong những điều kiện tiên quyết ban đầu để doanh nghiệp xem xét tham gia dự thầu. Trong khi đó, các chủ đầu tư thường nhầm lẫn giữa “giá rẻ” và “chất lượng”, những doanh nghiệp có công nghệ cao, dịch vụ chất lượng tốt nhưng kèm theo đó là giá dự thầu cao hơn, là một trong những tiêu chí làm cho doanh nghiệp bị đánh giá thấp hơn.

Mặt khác, các doanh nghiệp còn chịu ảnh hưởng bởi “giá tối đa”, có nghĩa dù doanh nghiệp có cung cấp SPDVC thì chỉ được cung cấp dưới mức trần. Trong khi nhiều doanh nghiệp có công nghệ hiện đại, dịch vụ chất lượng cao thì chi phí cung cấp SPDVC của họ có thể cao hơn mức trần. Dẫn đến doanh nghiệp không còn động lực tham dự thầu khi đã dự tính trước được thua lỗ.

Thứ hai, quy định về thời hạn thực hiện gói thầu.

Theo Điều 45 Luật Đấu thầu 2023 và Nghị định số 214/2025/NĐ-CP, một gói thầu thông thường phải trải qua các thời gian lựa chọn nhà thầu như sau: Thời gian chuẩn bị hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển tối thiểu là 09 ngày đối với đấu thầu trong nước, 18 ngày đối với đấu thầu quốc tế kể từ ngày đầu tiên hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển được phát hành đến ngày có thời điểm đóng thầu; Thời gian chuẩn bị hồ sơ dự thầu tối thiểu là 18 ngày đối với đấu thầu trong nước, 35 ngày đối với đấu thầu quốc tế kể từ ngày đầu tiên hồ sơ mời thầu được phát hành đến ngày có thời điểm đóng thầu.

Một trong những điểm mới của Luật Đấu thầu năm 2023 là đã rút ngắn được đáng kể thời gian lựa chọn nhà thầu. Tuy nhiên, trên thực tế việc lập một gói thầu còn dựa vào chủ trương, quyết định của địa phương và sau khi quyết định, địa phương phải tiến hành lập dự toán theo năm.

Đối với các gói thầu chi thường xuyên, việc lập dự toán và phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu hằng năm thường xuyên chậm trễ. Quy trình này thường kéo dài 3-4 tháng đầu năm, khiến doanh nghiệp chỉ còn 8-9 tháng để thực hiện hợp đồng. Trong khi việc thực hiện gói thầu chỉ được thực hiện với thời hạn 1 năm, doanh nghiệp chưa đủ “mặn mà” để huy động vốn đầu tư máy móc, trang thiết bị cũng như tuyển dụng nhân lực để mở rộng quy mô hay, cải thiện chất lượng dịch vụ khi không chắc chắn năm sau có trúng thầu tiếp hay không? 6

Nhiều doanh nghiệp KVTN không đủ kiên nhẫn hoặc nguồn lực tài chính để theo đuổi các quy trình kéo dài nhiều tháng chỉ để đổi lấy gói thầu thực hiện trong ngắn hạn. Trong khi doanh nghiệp phải huy động nhân lực, máy móc nhanh trong thời gian ngắn nhưng lại phải đối mặt với rủi ro đứt gãy gói thầu khi kết thúc năm dự toán, khiến doanh nghiệp không dám đầu tư bài bản vào công nghệ hay thiết bị hiện đại. Doanh nghiệp mất quá nhiều thời gian cho việc làm hồ sơ dự thầu hàng năm thay vì tập trung vào cải thiện chất lượng dịch vụ.

Thứ ba, những hạn chế về cạnh tranh trong hồ sơ mời thầu.

Những tiêu chí khắt khe trong hồ sơ mời thầu ngoài đảm bảo việc bên nhận thầu có đủ khả năng đáp ứng được việc thực hiện gói thầu, nhưng đây cũng là một phương thức được đưa vào hồ sơ mời thầu để làm khó các doanh nghiệp ở KVTN quan tâm tham dự thầu, loại bỏ hồ sơ tham dự thầu từ ban đầu dù đây là hành vi cấm được quy định rõ trong Luật đấu thầu.

Đơn cử vụ việc tại Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Lào Cai, hồ sơ mời thầu Gói thầu “Mua sắm tài sản, thiết bị y tế phục vụ công tác khám chữa bệnh năm 2024”. Theo phản ánh của nhà thầu, hồ sơ mời thầu đưa ra các thông số kỹ thuật chi tiết cho máy đo loãng xương toàn thân dexa (như góc nghiêng anode, độ trữ nhiệt, bộ lọc...) mà các tiêu chí này chỉ sản phẩm của hãng GE mới đáp ứng được. Một số tiêu chuẩn kỹ thuật trong hồ sơ mời thầu đang giới hạn chủng loại hàng hóa, mang tính định hướng cho một hãng đáp ứng, gây cạnh tranh không bình đẳng và có phần “ưu ái” cho nhà thầu có các chỉ số kỹ thuật trùng khớp tương tự, gây khó khăn, loại bỏ các nhà thầu khác.7

Bên cạnh các rào cản kỹ thuật, một số chủ đầu tư còn đưa vào hồ sơ mời thầu các tiêu chí không cần thiết. Ví dụ, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình từng yêu cầu nhà thầu dịch vụ may mặc phải có chứng chỉ 5S. Trong khi Chứng chỉ 5S là một tiêu chuẩn quản lý chất lượng Nhật Bản, nhưng việc yêu cầu bắt buộc đối với dịch vụ may mặc là không cần thiết. Các nhà thầu cho rằng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình đã gây hạn chế cạnh tranh, làm méo mó mục tiêu lựa chọn nhà thầu có năng lực thực sự và không phản ánh đúng trọng tâm hướng đến chất lượng sản phẩm, thay vào đó gần như tạo dựng một hàng rào hạn chế sự tham gia rộng rãi của các nhà thầu…8

Những hạn chế cạnh tranh do các chủ đầu tư đưa ra còn là nhằm đưa những doanh nghiệp “sân sau” vào tham gia gói thầu, loại bỏ những nhà thầu có đủ năng lực tham gia. Chính tình trạng này đã phát sinh nhiều vấn đề nhũng nhiễu, tiêu cực trong thời gian qua. Ngoài ra, khi chỉ có duy nhất nhà thầu “sân sau” tham gia thầu, thì việc đấu thầu vô tình lại trở thành chỉ định thầu, với đơn giá trúng thầu không mang tính cạnh tranh, gây lãng phí, thất thoát ngân sách nhà nước.

Thứ tư, cạnh tranh với khu vực công khi cơ chế đấu thầu SPDVC chỉ được lựa chọn sau phương thức đặt hàng.

Như đã phân tích trên, việc lựa chọn nhà thầu cung cấp SPDVC chỉ được thực hiện khi cơ quan đặt hàng quyết định không tiến hành đặt hàng SPDVC. Việc đặt hàng được xem là một phương thức chỉ định, do chính cơ quan đặt hàng quyết định về giá, về nhà cung cấp, trong đó bên nhận đặt hàng cung cấp là ĐVSNCL hoặc nhà cung cấp SPDVC khác. Từ việc này đã cho thấy KVTN tham gia đấu thầu ban đầu còn phụ thuộc vào việc cơ quan lựa chọn đặt hàng hay lựa chọn đấu thầu.

Ngoài ra, chính KVTN còn phải cạnh tranh thầu đối với khu vực công, chính là các ĐVSNCL. Trong khi các ĐVSNCL có lợi thế là đã được Nhà nước hỗ trợ về trụ sở, đất đai và lương cơ bản cho công, viên chức, nhân viên trong đơn vị. Đây là một cơ chế cạnh tranh về giá mà các doanh nghiệp KVTN luôn cân nhắc khi tham gia vào đấu thầu.

Thứ năm, những tình trạng tiêu cực trong đấu thầu làm mất đi những doanh nghiệp ở KVTN có khả năng tham gia thầu.

Những năm gần đây, tình trạng vi phạm quy định về đấu thầu ngày càng xảy ra phổ biến. Như dàn xếp hồ sơ thầu, cản trở nhà thầu tiếp cận hồ sơ, không công khai thông tin theo quy định, đưa vào hồ sơ mời thầu các tiêu chí hạn chế cạnh tranh, thông thầu, cố tình làm sai lệch hồ sơ thầu, lợi dụng chức vụ quyền hạn để can thiệp… nhằm lợi ích nhóm. Ví dụ, vụ án xảy ra tại Bệnh viện T, thành phố H, chủ đầu tư đã thông đồng với các doanh nghiệp ký gửi vật tư để bệnh viện sử dụng trước, sau đó hợp thức hóa bằng cách đấu thầu hoặc chỉ định thầu rút gọn với lý do “cấp bách”. Đồng thời, các bên thực hiện thanh toán theo giá đã được nâng khống, gây thiệt hại nghiêm trọng.9

Hay như vụ việc tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H là điển hình cho việc lợi dụng chức vụ để can thiệp trái pháp luật. Ông Nguyễn Văn A, khi đó là Chủ tịch UBND thành phố, đã chỉ đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư dừng gói thầu số hóa năm 2016 trái quy định, buộc thay đổi công nghệ số hóa để tạo điều kiện cho Công ty N thí điểm, tham gia đấu thầu và trúng thầu sau đó. Trong đó, Công ty M (do vợ ông A điều hành) đã ký hợp đồng khống với Công ty N nhằm hợp thức hóa năng lực dự thầu và trúng thầu. Vụ án đã gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước 26 tỷ đồng.10

5. Đề xuất một số giải pháp pháp lý nhằm tạo động lực cho KVTN tham gia đấu thầu cung cấp SPDVC

Thứ nhất, xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật thường xuyên để lập dự toán cho từng SPDVC và có cơ chế điều chỉnh giá thầu phù hợp.

Hiện nay, các SPDVC chưa có định mức kinh tế - kỹ thuật riêng mà chỉ áp dụng một số định mức mang tính chung chung. Thực tế, định mức kinh tế - kỹ thuật đối với một số dịch vụ sự nghiệp công chưa được cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương ban hành, đơn cử như lĩnh vực trợ giúp pháp lý; văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch;  lâm nghiệp; dịch vụ công chiếu sáng đô thị, cây xanh đô thị; công thương... Điều này gây khó khăn trong việc xác định giá, đơn giá thầu.Việc các bộ, ngành chậm hướng dẫn, ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật khiến các địa phương lúng túng khi không có cơ sở để thực hiện, vận dụng thiếu thống nhất. Vì vậy, cần xây dựng một hệ thống định mức chung cho cả nước mà không để địa phương tự ban hành định mức riêng. Điều này vừa hạn chế sai sót, tùy tiện và vừa tốn kém, lãng phí công sức, tiền bạc.11

Mặt khác, định mức cần được xây dựng một cách mở, như xây dựng định mức theo cấp độ công nghệ, ví dụ SPDVC sử dụng công nghệ cao cần được ban hành định mức cao hơn so với SPDVC sử dụng công nghệ đại trà hoặc thực hiện thủ công; hoặc định mức có thể xây dựng theo từng vùng miền cụ thể, như phân biệt giữa hải đảo, miền núi, đô thị,… để có định mức phù hợp, để đảm bảo tính sát thực.

Pháp luật về đấu thầu và ngân sách cần cho phép điều chỉnh đơn giá thầu khi các yếu tố đầu vào biến động khách quan, như chính sách pháp luật thay đổi mức lương tối thiểu vùng, biến động giá nhiên liệu vượt ngưỡng,… Doanh nghiệp sẽ được quyền yêu cầu điều chỉnh giá trị hợp đồng thầu mà không phải trải qua quy trình phê duyệt lại dự toán phức tạp.

Ngoài ra, quá trình lựa chọn thầu cần áp dụng phương pháp lựa chọn nhà thầu linh hoạt đối với từng gói thầu, ưu tiên phương pháp kết hợp giữa kỹ thuật và giá thay vì chỉ chọn giá thấp nhất, nhằm ngăn chặn tình trạng doanh nghiệp cắt giảm chất lượng dịch vụ để bù lỗ.

Thứ hai, rút ngắn thời hạn giải quyết các thủ tục, tăng thời hạn cung cấp, sản phẩm dịch vụ công.

Hiện tại, ngân sách chi thường xuyên được dự toán và quyết toán theo hàng năm. Thực tế cho thấy, nhiều địa phương thực hiện việc đấu thầu cung cấp SPDVC theo thời hạn hàng năm. Thay vào đó, cần có cơ chế pháp lý cho phép ký hợp đồng cung cấp SPDVC dài hạn đối với các SPDVC có tính chất lặp lại (vệ sinh, cây xanh, chiếu sáng...).  Phương thức này đã được áp dụng hiệu quả tại Thành phố Hà Nội (áp dụng thời hạn từ 3-5 năm) và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũ (áp dụng thời hạn 10 năm), giúp doanh nghiệp yên tâm đầu tư máy móc, nhân sự bài bản trong khi vẫn đảm bảo việc quyết toán kinh phí hằng năm.

Trường hợp địa phương thực hiện đấu thầu theo hàng năm, thì có thể xem xét phương thức đấu thầu rút gọn hoặc đánh giá dựa trên hiệu quả đầu ra để giảm thời gian thực hiện các thủ tục đấu thầu phức tạp với các gói thầu đã có nhà thầu thực hiện tốt ở năm trước.

Thứ ba, có chính sách ưu tiên cho KVTN khi tham gia cung cấp SPDVC.

Để thu hút KVTN cung ứng SPDVC, Nhà nước cần ban hành các chính sách ưu tiên đồng bộ, đặc biệt là ưu đãi tài chính như miễn, giảm thuế, phí. Hiện nay, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 đã áp dụng mức thuế ưu đãi 10% cho các đơn vị xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục, y tế, môi trường... Nghị định số 69/2008/NĐ-CP trước đó đã có những khuyến khích nhất định cho một số SPDVC, bước đầu tạo động lực cho doanh nghiệp tham gia đấu thầu. Tuy nhiên, nhiều SPDVC khác vẫn thiếu cơ chế tương xứng. Do đó, cần xây dựng một chính sách khuyến khích chuyên biệt dành riêng cho KVTN khi tham gia cung cấp SPDVC, nhằm tạo sự công bằng và động lực kinh tế mạnh mẽ hơn.

Thứ tư, thực hiện số hóa hồ sơ thầu và áp dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) trong quá trình đấu thầu.

Hiện nay, vẫn còn một số trường hợp gian lận trong đấu thầu như việc sử dụng giấy tờ giả để hoàn thiện hồ sơ dự thầu. Như liên quan đến sai phạm trong vụ án CDC Hà Nội, bị cáo Nguyễn Trần Duy (nguyên Tổng Giám đốc Công ty thẩm định giá Nhân Thành) đã cố ý vi phạm quy định về giá để hỗ trợ chủ đầu tư thực hiện chỉ định thầu. Theo yêu cầu từ CDC Hà Nội, bị cáo Duy đã lập khống toàn bộ thủ tục, hồ sơ và ký ban hành chứng thư thẩm định giá theo mức giá ấn định sẵn. Ngoài ra, bị cáo còn ký hợp thức hóa thời gian trên hợp đồng và các chứng thư liên quan của gói thầu số 15 nhằm che giấu sai phạm và nâng khống giá trị thiết bị.12 Hay vụ việc Công ty CP Dịch vụ môi trường y tế Mesco đã bị phát hiện gian lận khi tham gia gói thầu giặt là tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2023. Doanh nghiệp này đã cung cấp chứng chỉ đào tạo vận hành thiết bị giặt là giả mạo của Tập đoàn Alliance cho hai nhân sự. Qua xác minh, Tập đoàn Alliance khẳng định giảng viên ký tên trên chứng chỉ đã nghỉ việc từ năm 2010 và các phôi bằng này không phải do họ cấp.13

Trong khi các vụ việc gian lận thường xuyên diễn ra, thì việc số hóa dữ liệu về hồ sơ năng lực và liên thông dữ liệu nhà thầu với cơ sở dữ liệu quốc gia là giải pháp phòng ngừa thiết yếu. Hiện nay, Đề án 06 gần như hoàn thiện và đạt được nhiều kết quả trong việc số hóa dữ liệu dân cư, định danh công dân và doanh nghiệp, liên thông các dữ liệu. Đây là một trong những nền tảng giúp việc số hóa dữ liệu về đấu thầu trở nên dễ dàng trong việc tích hợp các thông tin vào Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Việc số hóa không chỉ giúp tinh giản quy trình liên quan đến quy trình lựa chọn nhà thầu mà còn tăng cường được việc giám sát các cơ quan nhà nước, chủ đầu tư, nhà thầu, tổ chức, cá nhân khác trong việc minh bạch hóa các hồ sơ thầu.

Song song đó, AI cần được ứng dụng trong công tác đấu thầu qua mạng. AI có khả năng phân tích dữ liệu để hỗ trợ lựa chọn nhà thầu phù hợp, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí. Mặt khác, AI cũng có khả năng phát hiện những sai phạm trong công tác đấu thầu, như việc đưa ra những cảnh báo gian lận đối với hồ sơ dự thầu, cảnh báo hạn chế cạnh tranh đối với hồ sơ mời thầu hay một số gian lận khác, giúp cho quá trình đấu thầu tăng tính công khai, minh bạch.14

6. Kết luận

Việc tạo động lực cho KVTN tham gia cung ứng SPDVC không chỉ là một giải pháp nhằm giảm bớt gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước mà còn là đòn bẩy quan trọng để nâng cao chất lượng phục vụ người dân.

Tuy nhiên, qua phân tích quy định pháp luật và những khó khăn vướng mắc, có thể thấy hành lang pháp lý về đấu thầu cung cấp SPDVC hiện nay vẫn đang tồn tại nhiều điểm nút cần được tháo gỡ. Đơn cử những bất cập từ việc chưa có định mức kinh tế - kỹ thuật riêng cho từng loại SPDVC, cơ chế tính giá thầu còn hạn chế, cho đến những rào cản về thời hạn hợp đồng thầu ngắn hạn và thủ tục thanh quyết toán phức tạp đã vô hình trung đẩy doanh nghiệp vào thế khó. Điều này dẫn đến thực trạng KVTN chưa mặn mà, hoặc nếu tham gia thì khó có thể đầu tư bài bản, dài hạn vào công nghệ và chất lượng dịch vụ.

Vì vậy, việc cần thiết là phải thay đổi hành lang pháp lý về việc đấu thầu cung cấp SPDVC nhằm tạo điều kiện thuận lợi KVTN tham gia. Hoàn thiện pháp luật theo hướng cởi mở, minh bạch và sát thực tế không chỉ là chìa khóa tháo gỡ khó khăn cho KVTN, mà còn giúp Nhà nước trong việc tối ưu hóa nguồn lực công, trong đó người dân là đối tượng hưởng lợi chính.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN:

1Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 32/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019 của Chính phủ quy định giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng Ngân sách Nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 214/2025/NĐ-CP ngày 04/08/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu (Nghị định số 32/2019/NĐ-CP).

2Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 32/2019/NĐ-CP.

3Khoản 4 Điều 3 Nghị định số 32/2019/NĐ-CP.

4Khôi Nguyên (2024). Bất cập đơn giá định mức xây dựng: Doanh nghiệp “càng làm càng lỗ”, truy cập tại <https://diendandoanhnghiep.vn/bat-cap-don-gia-dinh-muc-xay-dung-doanh-nghiep-cang-lam-cang-lo-10127794.html>.

5Khoản 26 Điều 4, Luật Đấu thầu năm 2023.

6Ngọc Lan (2025). Gỡ vướng đấu thầu dịch vụ công ích, truy cập tại https://baohaiphong.vn/go-vuong-dau-thau-dich-vu-cong-ich-511390.html>.

7Hải Sơn (2024). Lào Cai: Một gói thầu mua sắm hàng hóa bị phản ánh có thông số hạn chế nhà thầu, truy cập tại <https://kinhte.congthuong.vn/lao-cai-mot-goi-thau-mua-sam-hang-hoa-bi-phan-anh-co-thong-so-han-che-nha-thau-338476.html>.

8Hoàng Phòng (2025). Số hóa dữ liệu và Đề án 06 – “Tấm lá chắn” ngăn chặn vi phạm trong đấu thầu y tế, truy cập tại <https://cand.com.vn/van-de-hom-nay-thoi-su/so-hoa-du-lieu-va-de-an-06--tam-la-chan-ngan-chan-vi-pham-trong-dau-thau-y-te-i766801/>.

9Cao Anh, Trần Thế Linh (2023). Nhận diện sai phạm trong các vụ án vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng. Tạp chí Kiểm sát, 14, 27.

10Cao Anh, Trần Thế Linh (2023). Nhận diện sai phạm trong các vụ án vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng. Tạp chí Kiểm sát, 14, 1-2.

11Phạm Văn Chung (2024). Gỡ khó khăn về định mức kinh tế - kỹ thuật, đơn giá dịch vụ công, truy cập tại  <https://daibieunhandan.vn/go-kho-khan-ve-dinh-muc-kinh-te-ky-thuat-don-gia-dich-vu-cong-10334141.html>.

12Việt Dũng (2020). Nâng khống thiết bị tại CDC Hà Nội: Gian lận trong thẩm định giá, truy cập tại <https://laodong.vn/phap-luat/nang-khong-thiet-bi-tai-cdc-ha-noi-gian-lan-trong-tham-dinh-gia-861275.ldo>.

13Trần Kiên (2023). Đấu thầu tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108: Mesco bị cáo buộc gian lận, cấm thầu 3 năm, truy cập tại <https://baodauthau.vn/dau-thau-tai-benh-vien-trung-uong-quan-doi-108-mesco-bi-cao-buoc-gian-lan-cam-thau-3-nam-post139543.html>.

14Hoàng Phong (2025). Số hóa dữ liệu và Đề án 06  “Tấm lá chắn” ngăn chặn vi phạm trong đấu thầu y tế, truy cập tại <https://cand.com.vn/van-de-hom-nay-thoi-su/so-hoa-du-lieu-va-de-an-06--tam-la-chan-ngan-chan-vi-pham-trong-dau-thau-y-te-i766801/>.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Chính phủ (2019). Nghị định số 32/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019 quy định giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng Ngân sách Nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên.

2. Chính phủ (2025). Nghị định số 214/2025/NĐ-CP ngày 04/08/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu.

3. Quốc hội (2023). Luật Đấu thầu năm 2023 (Luật số: 22/2023/QH15) ngày 23/6/2023.

4. Quốc hội (2025). Luật Ngân sách Nhà nước năm 2025 (Luật số: 89/2025/QH15) ngày 25/6/2025.

5. Cao Anh, Trần Thế Linh (2023). Nhận diện sai phạm trong các vụ án vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng. Tạp chí Kiểm sát, 14.

6. Đinh Tuấn Minh (2018). Thị trường hóa cung ứng dịch vụ công tại Việt Nam. Nhà xuất bản Tri Thức, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.

7. Đỗ Kiến Vọng (2019). Quản lý nhà nước về đấu thầu mua sắm công ở Việt Nam. Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học và Xã hội Việt Nam.

8. Hải Sơn (2024). Lào Cai: Một gói thầu mua sắm hàng hóa bị phản ánh có thông số hạn chế nhà thầu, truy cập tại <https://kinhte.congthuong.vn/lao-cai-mot-goi-thau-mua-sam-hang-hoa-bi-phan-anh-co-thong-so-han-che-nha-thau-338476.html>.

9. Hoàng Phong (2025). Số hóa dữ liệu và Đề án 06 – “Tấm lá chắn” ngăn chặn vi phạm trong đấu thầu y tế, truy cập tại <https://cand.com.vn/van-de-hom-nay-thoi-su/so-hoa-du-lieu-va-de-an-06--tam-la-chan-ngan-chan-vi-pham-trong-dau-thau-y-te-i766801/>.

10. Khôi Nguyên (2024). Bất cập đơn giá định mức xây dựng: Doanh nghiệp “càng làm càng lỗ”, truy cập tại <https://diendandoanhnghiep.vn/bat-cap-don-gia-dinh-muc-xay-dung-doanh-nghiep-cang-lam-cang-lo-10127794.html>.

11. Ngọc Lan (2025). Gỡ vướng đấu thầu dịch vụ công ích, truy cập tại https://baohaiphong.vn/go-vuong-dau-thau-dich-vu-cong-ich-511390.html>.

12. Nguyễn Xuân Phùng (2024). Những điểm mới của Luật Đấu thầu 2023 so với Luật Đấu thầu 2013, Tạp chí Việt Nam Hội nhập, 335.

13. Nguyễn Thị Nhung (2024). Bàn về “hành vi không bảo đảm công bằng, minh bạch” trong hoạt động đấu thầu theo Luật Đấu thầu năm 2023, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1, 408.

14. Nguyễn Công Quan (2022). Pháp luật về đấu thầu xây dựng đầu tư công - Thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Dương, Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học Thủ Dầu Một.

15. Trần Kiên (2023). Đấu thầu tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108: Mesco bị cáo buộc gian lận, cấm thầu 3 năm, truy cập tại <https://baodauthau.vn/dau-thau-tai-benh-vien-trung-uong-quan-doi-108-mesco-bi-cao-buoc-gian-lan-cam-thau-3-nam-post139543.html>.

16. Phạm Văn Chung (2024). Gỡ khó khăn về định mức kinh tế - kỹ thuật, đơn giá dịch vụ công, truy cập tại <https://daibieunhandan.vn/go-kho-khan-ve-dinh-muc-kinh-te-ky-thuat-don-gia-dich-vu-cong-10334141.html>.

17. Việt Dũng (2020). Nâng khống thiết bị tại CDC Hà Nội: Gian lận trong thẩm định giá, truy cập tại <https://laodong.vn/phap-luat/nang-khong-thiet-bi-tai-cdc-ha-noi-gian-lan-trong-tham-dinh-gia-861275.ldo>.

Enhancing private sector participation in the procurement of public goods and services: Emerging legal challenges

Nguyen Tri Hoang

Chief of Office of the People's Council and People's Committee of Phu Rieng Commune, Dong Nai Province

Abstract:

The legal framework governing bidding for the provision of public goods and services financed by recurrent expenditures from the state budget is presently dispersed across multiple legislative instruments. This study systematically examines the prevailing regulations applicable to such procurement activities, with particular attention to their scope, structure, and implementation. It further identifies and analyzes the legal and institutional barriers constraining private sector participation in competitive bidding processes. Through a critical assessment of the coherence and effectiveness of the existing framework, the study evaluates its implications for market access, competition, and the efficient allocation of public resources within the public procurement regime.

Keywords: bidding, public goods and services, public service units, state budget, regular funding sources, bidding law.

[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 3 năm 2026]

Tạp chí Công Thương