Phát triển thị trường trái phiếu xanh Việt Nam theo hướng bền vững

Bài báo Phát triển thị trường trái phiếu xanh Việt Nam theo hướng bền vững do Ngọ Thị Thu Giang (Trường Đại học Lao động - Xã hội) thực hiện.

Tóm tắt:

Bài viết phân tích thực trạng và những thách thức trong phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp thúc đẩy thị trường theo hướng bền vững. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù trái phiếu xanh là công cụ quan trọng giúp huy động vốn cho các dự án bảo vệ môi trường và tăng trưởng xanh, nhưng thị trường Việt Nam còn hạn chế về khung pháp lý, tiêu chí phân loại, quy mô và nhận thức của các chủ thể tham gia. Để phát triển bền vững, cần hoàn thiện hành lang pháp lý, xây dựng hệ sinh thái tài chính xanh đồng bộ, nâng cao năng lực doanh nghiệp và nhà đầu tư, tăng cường minh bạch thông tin và thu hút nguồn vốn quốc tế, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Từ khóa: trái phiếu xanh, thị trường tài chính xanh, phát triển bền vững, tăng trưởng xanh, chính sách tài chính xanh.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và cạn kiệt tài nguyên trở thành thách thức toàn cầu, tài chính xanh (TCX) được xem là trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững, trong đó trái phiếu xanh (TPX) là công cụ hiệu quả giúp huy động vốn trung và dài hạn cho các dự án thân thiện môi trường. Những năm gần đây, phát hành TPX trở thành xu hướng toàn cầu với sự tham gia của nhiều tổ chức tài chính quốc tế, như: Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Phát triển châu Á,... Tại Việt Nam, năm 2025 ghi nhận tổng giá trị phát hành trái phiếu xanh đạt 3.407 tỷ đồng với 5 giao dịch thành công, tất cả đều được đánh giá độc lập theo chuẩn mực quốc tế, cho thấy tín hiệu tích cực trong phát triển thị trường TCX.

Cùng với cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 tại Hội nghị COP26, nhu cầu vốn cho các dự án năng lượng tái tạo, giao thông bền vững và hạ tầng thông minh của Việt Nam ngày càng lớn. Chính phủ đã đưa phát triển TCX và TPX vào Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Tuy nhiên, thị trường TPX hiện vẫn ở giai đoạn sơ khai, với quy mô nhỏ, khung pháp lý chưa hoàn thiện và thiếu cơ chế khuyến khích đầu tư đủ mạnh. Trước thực tế đó, bài viết tập trung phân tích thực trạng thị trường TPX Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển thị trường TPX theo hướng bền vững trong thời gian tới.

2. Tổng quan về phát triển thị trường trái phiếu xanh theo hướng bền vững

2.1. Khái niệm về phát triển thị trường trái phiếu xanh theo hướng bền vững

Trong bối cảnh yêu cầu phát triển bền vững gia tăng, TPX trở thành công cụ tài chính quan trọng để huy động vốn cho các dự án môi trường. TPX được phát hành lần đầu năm 2008 bởi Ngân hàng Thế giới nhằm tài trợ cho hoạt động giảm phát thải và thích ứng biến đổi khí hậu. Từ chỗ ít được quan tâm, TPX nhanh chóng phát triển và trở thành kênh huy động vốn phổ biến khi xu hướng tài chính bền vững ngày càng được thúc đẩy.

Theo Climate Bonds Initiative (2018), TPX là loại trái phiếu huy động vốn cho các dự án ứng phó biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. Chủ thể phát hành có thể là chính phủ, chính quyền địa phương, ngân hàng hoặc doanh nghiệp. Về bản chất, TPX là chứng khoán nợ tương tự trái phiếu truyền thống nhưng có yêu cầu chặt chẽ về mục đích sử dụng vốn cho các dự án xanh.

Bộ Nguyên tắc Trái phiếu xanh (GBP) do Hiệp hội Thị trường Vốn Quốc tế ban hành định nghĩa TPX là trái phiếu sử dụng vốn cho các dự án thân thiện môi trường như năng lượng tái tạo, quản lý nước hay giao thông sạch. GBP xác định 4 nguyên tắc cốt lõi, bao gồm: sử dụng vốn đúng mục đích xanh, đánh giá và lựa chọn dự án, quản lý nguồn vốn và báo cáo minh bạch. Các nguyên tắc này tạo nền tảng phát triển thị trường TPX theo hướng minh bạch và bền vững

Tại Việt Nam, theo hướng dẫn của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (2021), TPX là loại trái phiếu có nguồn vốn được phân bổ cho các dự án mang lại lợi ích môi trường hoặc xã hội và phải được quản lý, công bố thông tin minh bạch. Như vậy, TPX về bản chất là trái phiếu thông thường nhưng gắn với tiêu chí sử dụng vốn xanh và yêu cầu minh bạch cao hơn.

Từ các quan điểm trên, thị trường TPX là bộ phận của thị trường tài chính, nơi diễn ra hoạt động phát hành và đầu tư vào trái phiếu tài trợ cho các dự án có lợi ích môi trường như năng lượng tái tạo, quản lý chất thải hay giao thông sạch. Sự phát triển của thị trường này gắn với mở rộng quy mô phát hành, đa dạng hóa chủ thể tham gia, nâng cao minh bạch và đảm bảo hiệu quả môi trường của dự án sử dụng vốn.

Bên cạnh TPX, Hiệp hội Thị trường Vốn Quốc tế cũng đưa ra khái niệm trái phiếu bền vững nhằm mở rộng phạm vi tài trợ. Đây là loại trái phiếu sử dụng vốn cho cả dự án xanh và dự án xã hội, tuân thủ các nguyên tắc của TPX và trái phiếu xã hội. Công cụ này cho phép tài trợ hoặc tái cấp vốn cho các dự án phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường và an sinh xã hội, qua đó tạo nền tảng cho phát triển thị trường trái phiếu theo hướng bền vững.

Tóm lại, phát triển thị trường TPX theo hướng bền vững là quá trình mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng thị trường, đồng thời đảm bảo minh bạch, hiệu quả sử dụng vốn và tác động tích cực lâu dài đến môi trường và xã hội. Quá trình này bao gồm đa dạng hóa chủ thể tham gia, hoàn thiện khung pháp lý, chuẩn hóa tiêu chuẩn phát hành và nâng cao thanh khoản thị trường. Qua đó, thị trường trái phiếu xanh phát triển ổn định, góp phần huy động nguồn lực cho tăng trưởng bền vững.

2.2. Lợi ích của phát triển thị trường trái phiếu xanh theo hướng bền vững

Việc phát triển thị trường TPX theo hướng bền vững mang lại nhiều lợi ích cho tổ chức phát hành, nhà đầu tư và toàn bộ nền kinh tế, đồng thời góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh. Cụ thể:

Thứ nhất, đối với tổ chức phát hành: TPX là công cụ huy động vốn hiệu quả cho các dự án thân thiện môi trường như năng lượng tái tạo hay hạ tầng bền vững. Phát triển thị trường theo hướng bền vững giúp doanh nghiệp và cơ quan nhà nước tiếp cận nguồn vốn dài hạn với chi phí hợp lý, đồng thời nâng cao uy tín của tổ chức phát hành, thể hiện cam kết trách nhiệm xã hội và đáp ứng xu hướng đầu tư chú trọng các tiêu chí môi trường - xã hội - quản trị.

Thứ hai, đối với nhà đầu tư: Thị trường TPX bền vững tạo kênh đầu tư ổn định, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đối với các sản phẩm tài chính xanh. Với lợi suất và rủi ro tương tự trái phiếu truyền thống, TPX giúp đa dạng hóa danh mục và phân tán rủi ro. Đồng thời, TPX thu hút nhà đầu tư dài hạn như quỹ hưu trí, quỹ ESG và tổ chức tài chính quốc tế, vừa mang lại lợi nhuận tài chính, vừa tạo giá trị môi trường và xã hội, góp phần thúc đẩy mục tiêu giảm phát thải.

Thứ ba, đối với nền kinh tế và xã hội: Phát triển thị trường TPX theo hướng bền vững giúp chuyển dịch dòng vốn vào các lĩnh vực xanh, giảm áp lực ngân sách cho các dự án môi trường và thúc đẩy doanh nghiệp sản xuất thân thiện với môi trường. Về dài hạn, thị trường này hỗ trợ xây dựng nền kinh tế các-bon thấp và góp phần thực hiện các cam kết khí hậu quốc tế như Thỏa thuận Paris và mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

3. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với thống kê mô tả để phân tích thị trường TPX Việt Nam theo hướng bền vững. Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo của Climate Bonds Initiative, Hiệp hội Thị trường Vốn Quốc tế cùng các cơ quan quản lý trong nước. Ngoài ra, phương pháp so sánh và phân tích, tổng hợp được sử dụng để đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế và đề xuất giải pháp phát triển thị trường trái phiếu xanh Việt Nam theo hướng bền vững.

4. Thực trạng phát triển thị trường trái phiếu xanh Việt Nam theo hướng bền vững

4.1. Chính sách và khung pháp lý về phát triển thị trường trái phiếu xanh

Trong gần 1 thập niên qua, Việt Nam đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách và khung pháp lý nhằm thúc đẩy phát triển thị trường TPX, tạo nền tảng cho tài chính xanh và tăng trưởng bền vững. Định hướng này được hình thành từ sớm thông qua Quyết định số 1393/QĐ-TTg, xác định tăng trưởng xanh là hướng đi quan trọng trong tái cấu trúc nền kinh tế. Tiếp đó, Quyết định số 403/QĐ-TTg đã đưa nội dung TCX vào thị trường vốn, đồng thời Nghị quyết 24-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu huy động nguồn lực cho tăng trưởng xanh gắn với chuyển đổi mô hình phát triển. Đặc biệt, Quyết định số 1191/QĐ-TTg xác định phát triển TPX là giải pháp then chốt nhằm mở rộng kênh huy động vốn dài hạn cho các dự án môi trường.

Trên cơ sở các định hướng chính sách, khung pháp lý cho thị trường TPX từng bước được hoàn thiện. Năm 2015, Quyết định số 2183/QĐ-BTC phê duyệt kế hoạch hành động thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh, xác định phát triển các sản phẩm tài chính xanh, bao gồm trái phiếu Chính phủ, chính quyền địa phương và doanh nghiệp xanh. Năm 2016, Bộ Tài chính tiếp tục phê duyệt Đề án phát hành thí điểm TPX cho chính quyền địa phương, mở đầu cho việc áp dụng công cụ này tại Việt Nam. Giai đoạn 2018-2024, khung pháp lý được mở rộng và hoàn thiện thêm thông qua nhiều nghị định và thông tư liên quan (Bảng 1).

Bảng 1. Tổng hợp khung pháp lý về phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam

Văn bản pháp lý

Nội dung trọng tâm

Tác động đối với thị trường TPX

Nghị định số 163/2018/NĐ-CP.  Ngày 04/12/2018

Quy định phát hành TPDN xanh, nguyên tắc sử dụng vốn, công bố thông tin

Đặt nền móng pháp lý cho TPDN xanh tại Việt Nam

Nghị định số 95/2018/NĐ-CP. Ngày 30/06/2018

Phát hành TPCP xanh cho các dự án môi trường

Mở rộng phạm vi huy động vốn xanh ở cấp trung ương

Luật Bảo vệ Môi trường 2020, Ngày 17/11/2020.

Công nhận TPX là công cụ huy động vốn cho dự án bảo vệ môi trường

Cơ sở pháp lý cao nhất cho TPX

Nghị định số 08/2022/NĐ-CP. Ngày 10/01/2022

Quy định danh mục dự án được phát hành TPX, cơ chế ưu đãi phí dịch vụ

Tăng tính minh bạch, giảm chi phí phát hành

Thông tư số 101/2021/TT-BTC. Ngày 17/11/2021

Hướng dẫn giảm 50% phí dịch vụ chứng khoán cho TPX

Khuyến khích chủ thể phát hành và nhà đầu tư

Quyết định số 368/QĐ-TTg (2022)

Phê duyệt Chiến lược tài chính đến năm 2030

Xác định TPX là công cụ huy động vốn chiến lược

Quyết định số 1934/QĐ-BTC. Ngày 15/8/2024

 

Kế hoạch hành động Bộ Tài chính thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh

Cụ thể hóa nhiệm vụ hoàn thiện pháp lý TPX

Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg, ngày 04/7/2025

Ban hành Bộ tiêu chí môi trường và xác nhận dự án xanh

Tạo cơ sở chứng nhận và phân loại dự án xanh thống nhất

Nguồn: Tác giả tổng hợp, 2026.

Nhìn chung, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã hình thành một khung khổ cơ bản, hướng đến việc chuẩn hóa quy trình phát hành, quản lý, công bố thông tin và giám sát dòng vốn TPX, góp phần đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả sử dụng vốn cho các dự án xanh.

4.2. Giá trị và đặc điểm phát triển thị trường trái phiếu xanh theo hướng bền vững

4.2.1. Giá trị phát hành trái phiếu xanh

Thị trường TPX Việt Nam giai đoạn 2023-2025 chứng kiến sự biến động mạnh mẽ, phản ánh rõ rệt xu hướng mở rộng và điều chỉnh của kênh huy động vốn xanh trong bối cảnh chuyển đổi sang tăng trưởng bền vững.

Bảng 2. Giá trị phát hành và số đợt phát hành trái phiếu xanh giai đoạn 2023-2025

Năm

Giá trị phát hành (tỷ đồng)

Thay đổi  so với năm trước(%)

Số đợt phát hành Trái phiếu xanh

2023

2.500,0

45

1,0

2024

10.325,1*

313

6,0

2025

3.407,2

-67

5,0

Nguồn: FiinRatings, 2026.

Theo số liệu Bảng 2, năm 2023, thị trường TPX ở giai đoạn khởi động với giá trị phát hành 2.500 tỷ đồng, tăng 45% so với năm trước nhưng chỉ có 1 đợt phát hành, cho thấy quy mô còn nhỏ và các doanh nghiệp vẫn đang thăm dò khả năng tiếp cận nguồn vốn xanh cũng như tìm hiểu yêu cầu về minh bạch thông tin, báo cáo môi trường và tiêu chuẩn phát hành. Năm 2024, thị trường tăng trưởng mạnh khi giá trị phát hành đạt 10.325,1 tỷ đồng (tăng 313%) với 6 đợt phát hành, nhờ sự tham gia của các ngân hàng và doanh nghiệp lớn cùng chính sách khuyến khích TCX và sự xuất hiện của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm như FiinRatings và Thiên Minh Rating. Tuy nhiên, năm 2025, giá trị phát hành giảm còn 3.407,2 tỷ đồng (giảm 67%), phản ánh giai đoạn điều chỉnh sau tăng trưởng nhanh do yêu cầu ESG, biến động lãi suất và điều kiện tín dụng chặt chẽ hơn; dù vậy số đợt phát hành vẫn ổn định, cho thấy TPX đang dần trở thành kênh huy động vốn quen thuộc và lan tỏa sang nhiều doanh nghiệp.

4.2.2. Đặc điểm giao dịch và chuẩn mực phát hành trái phiếu xanh

Giai đoạn 2023-2025 đánh dấu bước phát triển quan trọng của thị trường TPX và bền vững tại Việt Nam, thể hiện qua sự mở rộng về quy mô, đa dạng về chủ thể phát hành và sự chuẩn hóa trong các nguyên tắc, tiêu chuẩn phát hành. Dữ liệu từ Bảng 3 cho thấy, đã có 14 đợt phát hành với tổng giá trị hơn 19.800 tỷ đồng, chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực năng lượng, cấp thoát nước, bất động sản và tài chính - ngân hàng.

Bảng 3. Các đợt phát hành trái phiếu xanh, bền vững và liên kết bền vững

Giai đoạn 2023-2025

Tổ chức phát hành

Ngày phát hành

Loại trái phiếu

Giá trị (tỷ VND)

Kỳ hạn

Kiểm định độc lập

Nguyên tắc tham chiếu

BIM Land 

Tháng 8/2023

Liên kết Bền vững

2,333

7 năm

DNV GL

ICMA, GBP

CTCP Thanh Xuân

Tháng 9/2023

Liên kết Bền vững

583.5

7 năm

DNV GL

ICMA, GBP, GBS

BIDV

Tháng 10/2023

Xanh

2,500

5 năm

Moody’s

ICMA

SeABank

Tháng 6/2024

Xanh và xanh dương

3,500

 

 

 

BIDV

Tháng 9/2024

Liên kết Bền vững

3,000

5 năm

Moody’s

ICMA

IDI Group

Tháng 10/2024

Xanh

1,000

8 năm

FiinRatings

ICMA

Vietcombank

Tháng 11/2024

Xanh

2,000

2 năm

S&P

ICMA

Biwase - Long An

Tháng 11/2024

Xanh

700

10 năm

FiinRatings

ICMA

Nước sạch Hòa Bình - Xuân Mai

Tháng 11/2024

Xanh

875

20 năm

FiinRatings

ICMA

Công ty TNHH Truyền dẫn Nước sạch Xuân Mai - Hà Nội

Tháng 04/2025

 Xanh

317,2

20 năm

FiinRatings

ICMA

Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (MSB)

Tháng 07/2025

 Bền vững

680

5 năm

S&P Global Ratings

ICMA

Công ty TNHH Miza Nghi Sơn

Tháng 12/2025

 Xanh

150

7 năm

FiinRatings

ICMA

Công ty Cổ phần Tập đoàn Nhựa Bình Thuận

Tháng 12/2025

Xanh

160

2 năm

FiinRatings

ICMA

Vietcombank

Tháng 12/2025

Bền vững

2000

2 năm

Sustainable Fitch

ICMA

Nguồn: VBMA, 2024; FiinRatings, 2026.

Từ thực tế này, có thể nhận diện một số đặc điểm nổi bật của hoạt động giao dịch và chuẩn mực phát hành TPX tại Việt Nam trong giai đoạn 2023 - 2025 như sau:

-  Đặc điểm về giao dịch TPX và bền vững

Thứ nhất, về chủ thể phát hành, số lượng tổ chức tham gia ngày càng đa dạng, từ 3 đơn vị năm 2023 gồm: BIM Land, CTCP Thanh Xuân và BIDV, đến năm 2025 mở rộng sang nhiều ngân hàng và doanh nghiệp như Vietcombank, MSB và Miza Nghi Sơn, Nhựa Bình Thuận, Biwase - Long An hay Nước sạch Hòa Bình - Xuân Mai. Sự mở rộng này phản ánh xu hướng gia tăng nhận thức của doanh nghiệp trong việc sử dụng trái phiếu như một công cụ huy động vốn xanh, thay vì chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng truyền thống.

Thứ hai, về kỳ hạn và giá trị giao dịch, trái phiếu chủ yếu có kỳ hạn 2-10 năm, một số dự án môi trường kéo dài đến 20 năm; giá trị mỗi đợt phát hành dao động khoảng 150-3.500 tỷ đồng, phản ánh quy mô còn khiêm tốn nhưng đang mở rộng về chiều sâu.

Thứ ba, về hình thức giao dịch, phần lớn trái phiếu phát hành riêng lẻ trong nước cho nhà đầu tư tổ chức; tuy nhiên, xu hướng phát hành quốc tế bắt đầu hình thành, tiêu biểu như các đợt phát hành được kiểm định bởi DNV GL, cho thấy bước đầu hội nhập thị trường vốn xanh toàn cầu.

-  Chuẩn mực và nguyên tắc phát hành

Dữ liệu Bảng 3 cho thấy giai đoạn 2023-2025, toàn bộ 14 đợt phát hành TPX và bền vững tại Việt Nam đều tuân thủ các chuẩn mực quốc tế như Nguyên tắc Trái phiếu Xanh (GBP) và hướng dẫn trái phiếu bền vững của Hiệp hội Thị trường Vốn Quốc tế; một số tổ chức còn áp dụng tiêu chuẩn ASEAN GBS nhằm tăng khả năng thu hút nhà đầu tư quốc tế. Đồng thời, các đợt phát hành đều có sự tham gia của tổ chức kiểm định độc lập như DNV GL, Moody's, S&P Global Ratings, FiinRatings và Sustainable Fitch, góp phần nâng cao tính minh bạch, giảm rủi ro thông tin và từng bước hình thành hệ sinh thái phát hành trái phiếu xanh theo thông lệ quốc tế.

4.3. Những khó khăn và thách thức trong phát triển thị trường TPX Việt Nam theo hướng bền vững

Thứ nhất, thiếu khung pháp lý và tiêu chí phân loại xanh rõ ràng. Mặc dù đã có nhiều định hướng phát triển TCX, Việt Nam vẫn thiếu tiêu chuẩn thống nhất và quy trình giám sát đồng bộ, khiến các đợt phát hành giai đoạn 2023-2025 gặp khó khăn trong phân loại dự án và đánh giá hiệu quả môi trường.

Thứ hai, hệ thống tài chính hỗ trợ chưa đồng bộ và thiếu các định chế trung gian. Thị trường TPX còn thiếu quỹ đầu tư xanh, cơ chế bảo lãnh và công cụ chia sẻ rủi ro, trong khi tổ chức xếp hạng tín nhiệm và kiểm định độc lập còn hạn chế, làm tăng chi phí phát hành, giảm minh bạch và khiến quy mô thị trường giai đoạn 2023-2025 vẫn nhỏ, chủ yếu phụ thuộc vào một số tổ chức phát hành lớn.

Thứ ba, nhận thức và năng lực của doanh nghiệp và nhà đầu tư còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp chưa nắm rõ yêu cầu báo cáo ESG và kiểm định độc lập nên số đợt phát hành còn ít, chủ yếu thuộc về ngân hàng và doanh nghiệp lớn. Nhà đầu tư trong nước cũng thiếu kinh nghiệm định giá dự án xanh, khiến cầu đầu tư chưa ổn định và thị trường biến động mạnh giai đoạn 2024-2025.

Thứ tư, chi phí phát hành cao và quy mô thị trường còn nhỏ. So với trái phiếu thông thường, TPX phát sinh thêm chi phí kiểm toán, xác minh độc lập và báo cáo định kỳ, trong khi tính thanh khoản thứ cấp thấp và chủ yếu phát hành riêng lẻ. Thực tế giai đoạn 2023-2025 cho thấy giá trị phát hành còn hạn chế và phân tán, làm giảm động lực tham gia của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Thứ năm, rủi ro “xanh hóa giả tạo” và động lực tăng trưởng chưa bền vững. Do thiếu hệ thống giám sát và đo lường tác động môi trường thống nhất, nguy cơ “xanh hóa” hình thức vẫn tồn tại, ảnh hưởng đến niềm tin nhà đầu tư. Bên cạnh đó, thị trường chủ yếu dựa vào định hướng của Nhà nước, trong khi sự tham gia của khu vực tư nhân còn hạn chế, khiến thanh khoản thấp và sức hút chưa cao giai đoạn 2023-2025.

5. Giải pháp nhằm phát triển thị trường TPX Việt Nam theo hướng bền vững

Để khắc phục những hạn chế và thúc đẩy phát triển thị trường TPX theo hướng bền vững, Việt Nam cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp chính sách sau:

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý và tiêu chí phân loại xanh quốc gia. Việc thiếu bộ tiêu chí phân loại xanh thống nhất là rào cản lớn đối với sự phát triển thị trường. Do đó, cần sớm ban hành hệ thống phân loại xanh quốc gia làm cơ sở xác định dự án đủ điều kiện phát hành TPX, đồng thời hoàn thiện quy định về kiểm toán, xác minh và công bố thông tin. Các cơ quan quản lý cần xây dựng hướng dẫn chi tiết phù hợp với các nguyên tắc do Hiệp hội Thị trường Vốn Quốc tế ban hành nhằm nâng cao tính minh bạch và hạn chế tình trạng “xanh hóa giả tạo”.

Thứ hai, phát triển hệ sinh thái TCX đồng bộ. Hạn chế về các định chế trung gian và công cụ hỗ trợ khiến thị trường TPX còn manh mún. Vì vậy, cần thúc đẩy hình thành các quỹ đầu tư xanh, quỹ bảo lãnh phát hành và các sản phẩm tài chính xanh liên quan, đồng thời khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm và kiểm định độc lập. Việc xây dựng hệ sinh thái đầy đủ sẽ góp phần giảm chi phí phát hành và nâng cao tính hấp dẫn của TPX.

Thứ ba, nâng cao nhận thức và năng lực của doanh nghiệp và nhà đầu tư. Một trong những nguyên nhân khiến quy mô thị trường còn nhỏ là do doanh nghiệp và nhà đầu tư chưa hiểu rõ lợi ích của TPX. Do đó, cần đẩy mạnh hoạt động đào tạo, hướng dẫn về quy trình phát hành, báo cáo ESG và đánh giá hiệu quả môi trường. Các chương trình này giúp tăng nguồn cung TPX và mở rộng cầu đầu tư trong nước, từ đó cải thiện tính thanh khoản của thị trường.

Thứ tư, tăng cường vai trò dẫn dắt của Nhà nước và thu hút nguồn vốn quốc tế. Trong bối cảnh động lực thị trường còn hạn chế, Nhà nước cần đóng vai trò định hướng thông qua phát hành TPX Chính phủ hoặc trái phiếu xanh của chính quyền địa phương nhằm tạo chuẩn mực cho thị trường. Đồng thời, cần tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới hoặc Ngân hàng Phát triển Châu Á để thu hút nguồn vốn, hỗ trợ kỹ thuật và kinh nghiệm phát triển thị trường.

Thứ năm, nâng cao minh bạch thông tin và tăng cường giám sát. Nguy cơ “xanh hóa giả tạo” và thiếu hệ thống đo lường tác động môi trường đòi hỏi phải thiết lập cơ chế giám sát chặt chẽ. Cần yêu cầu các tổ chức phát hành công bố định kỳ việc sử dụng vốn và hiệu quả môi trường của dự án, đồng thời thực hiện kiểm toán độc lập. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về TPX cũng giúp theo dõi và đánh giá hiệu quả thị trường.

Thứ sáu, tạo động lực thị trường và khuyến khích khu vực tư nhân tham gia. Do chi phí phát hành cao và lợi ích tài chính chưa rõ rệt, cần có cơ chế ưu đãi như hỗ trợ chi phí phát hành, ưu tiên tiếp cận tín dụng hoặc ưu đãi thuế đối với dự án xanh. Đồng thời, việc lồng ghép tiêu chí ESG vào tiêu chuẩn niêm yết và xếp hạng tín nhiệm sẽ khuyến khích doanh nghiệp nâng cao quản trị và tham gia phát hành TPX, qua đó thúc đẩy thị trường phát triển bền vững.

6. Kết luận

Phát triển thị trường TPX theo hướng bền vững là giải pháp quan trọng nhằm huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh tại Việt Nam. Mặc dù thị trường đã có bước phát triển trong giai đoạn 2023-2025, nhưng vẫn tồn tại hạn chế về khung pháp lý, quy mô và tính minh bạch. Vì vậy, cần hoàn thiện hành lang pháp lý, phát triển hệ sinh thái TCX  nâng cao nhận thức và tăng cường minh bạch thông tin. Thực hiện đồng bộ các giải pháp này sẽ góp phần xây dựng thị trường TPX ổn định, hiệu quả và hỗ trợ mục tiêu phát triển bền vững.

Tài liệu tham khảo:

Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XI. (2013). Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3/6/2013 về chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Bộ Tài chính. (2015). Quyết định số 2183/QĐ-BTC ngày 20/10/2015 phê duyệt Kế hoạch hành động của ngành Tài chính thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đến năm 2020.FiinRatings. (2026). Trái phiếu xanh Việt Nam 2025: Lan tỏa theo chiều sâu, chuẩn hóa để hội nhập. https://fiinratings.vn/vi/news-fg/trai-phieu-xanh-viet-nam-2025--lan-toa-theo-chieu-sau--chuan-hoa-de-hoi-nhap-id2865583.html

Green Bond Principles - GBP. (2018). Bộ nguyên tắc phát hành và sử dụng nguồn thu từ trái phiếu xanh. Truy cập từ: https://www.icmagroup.org/assets/documents/Sustainable-finance/Translations/Vietnamese-GBP2018-06-040321.pdf

Ministry of Planning and Investment. (2017). Vietnam Green Growth Strategy. https://www.vn.undp.org/content/dam/vietnam/docs/Article/01.%20Dr%20Mai%20VGGS%26NDC-SDG%20(Eng).pdf

Thủ tướng Chính phủ. (2012). Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050.

Thủ tướng Chính phủ. (2014). Quyết định số 403/QĐ-TTg ngày 20/9/2014 về Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020.

Thủ tướng Chính phủ. (2017). Quyết định số 1191/QĐ-TTg ngày 14/8/2017 phê duyệt Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu giai đoạn 2017-2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. (2021). Sổ tay hướng dẫn phát hành cho trái phiếu xanh, trái phiếu xã hội và trái phiếu bền vững.

VBMA. (2024). Báo cáo thường niên 2024. Truy cập từ: https://vbma.org.vn/storage/reports/March2025/VBMA_BAO%20CAO%20THUONG%20NIEN%202024.pdf

CBI. (2018). Green bond: The state of the market 2018.

Deutsche Gesellschaft für Internationale Zusammenarbeit (GIZ). (2018). Green bond development in Vietnam. https://www.giz.de/en/mediacenter/72919

Developing Vietnam's green bond market towards sustainability

Ngo Thi Thu Giang

University of Labour and Social Affairs

Abstract:

This study examines the current state of Vietnam’s green bond market and the key challenges hindering its development, while proposing solutions to promote sustainable growth. The findings show that, although green bonds serve as an important instrument for mobilizing capital for environmental protection and green growth projects, Vietnam’s market remains constrained by an incomplete legal framework, unclear classification criteria, limited market scale, and insufficient awareness among stakeholders. To support long-term development, the study emphasizes the need to strengthen the legal framework, establish a comprehensive green finance ecosystem, enhance the capacity of enterprises and investors, improve information transparency, and attract international capital flows, thereby contributing to Vietnam’s goal of achieving net-zero emissions by 2050.

Keywords: green bonds, green financial market, sustainable development, green growth, green finance policy.

Tạp chí Công Thương